- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hc"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu trả tiền vay, lãi, hụi của bà Nguyễn Thị Bích Ng;
- Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2018/DS-ST Ngày: 04/9/2018 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay và nợ hụi” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Văn Sang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hồ Thị Mai Hƣơng;
Ông Phạm Phƣớc Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ.
Trong ngày 04 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 317/2018/TLST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2018 về "tranh chấp hợp đồng vay và nợ hụi", theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 145/2018/QĐHPT-DS, ngày 16 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Bích Ng,
sinh năm 1956;
Địa chỉ: ấp 2, xã Mỹ Long, huyện C, tỉnh Đ.
- Bị đơn:
Nguyễn Thị Nh,
sinh năm: 1965;
Nguyễn Văn Đ1,
sinh năm: 1973
Địa chỉ: Ấp Mỹ Thới, xã Mỹ Xương, huyện C, tỉnh Đ.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Bà Nguyễn Thị Bích Ng trình bày: vào ngày 28/7/2016 chị Nh có tham gia 01 dây hụi do bà làm đầu thảo, hụi 5.000.000đồng thành viên tham gia dây hụi này 16 người. Mở hụi lần đầu tiên vào ngày 28/7/2016 chị Nh bỏ hụi và hốt lần đầu số tiền 58.300.000đồng ( có làm biên nhận nhận hụi ). Sau khi nhận hụi chị Nh có đóng hụi chết lại 06 lần còn lại 09 lần chưa đóng là 45.000.000đồng.
Ngoài số tiền hụi như trên trong khoản thời gian từ năm 2014 đến năm 2016 vợ chồng chị Nh và anh Đ1 có vay tiền nhiều lần thể hiện qua các biên nhận:
+ Ngày 26/10/2014 vay 180.000.000đồng;
+ Ngày 02/4/2015 vay tiền 105.000.000đồng;
+ Ngày 02/6/2016 vay số tiền 299.600.000đồng;
Tổng cộng 584.600.000đồng trong đó có 70.000.000đồng tiền lãi cộng vào thành vốn. Lãi suất của 03 lần vay 3%/tháng, thời hạn không xác định, không thế chấp tài sản. Trong các biên nhận nói trên anh Đ1 chỉ ký tên vào biên nhận 180.000.000đồng các biên nhận còn lại do chị Nh ký tên và chị Nh ký tên thay cho anh Đ1. Nay bà Ng yêu cầu vợ chồng anh Đ1, chị Nh liên đới trả số tiền vay 514.600.000đồng và tiền lãi 70.000.000đồng, tiền hụi là 45.000.000đồng, tiền lãi vay phát sinh từ tháng 6/2016 đến khi xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất do pháp luật quy định. Đối với tiền hụi thì không yêu cầu tính lãi.
- Chị Nguyễn Thị Nh và anh Nguyễn Văn Đ1 trình bày: Các biên nhận vay cũng như biên nhận hụi mà bà Bích Ng đưa ra do chị và anh Đ1 ký tên. Tuy nhiên, trong tổng số tiền vay 584.600.000đồng có tiền lãi 184.000.000đồng. Còn về nợ hụi thì anh, chị xác định là có thiếu tiền hụi 45.000.000đồng. Nay chị Nh, anh Đ1 đồng ý trả tiền vay 400.600.000đồng, tiền hụi 45.000.000đồng, số tiền lãi 184.000.000đồng không đồng ý trả. Chị Nh xác định các biên nhận do chị ký tên, anh Đ1 chỉ ký tên vào biên nhận 180.000.000đồng còn biên nhận 299.600.000đồng chử ký Đ1 và họ tên Nguyễn Văn Đ1 là do chị ký thay. Tuy không ký tên vào các biên nhận vay, biên nhận hụi nhưng anh Đ1 cũng thống nhất liên đới trả tiền trên về phần lãi 184.000.000đồng không đồng trả vì không có khả năng. Chị Nh xác định 184.000.000đồng tiền lãi cộng vào tiền vốn như trên chị chỉ bày chứ không có giấy tờ chứng minh cũng không ai biết
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật dân sự là “Tranh chấp hợp đồng vay và nợ hụi ” địa chỉ của bị đơn anh Đ1, chị Nh tại xã Mỹ Xương, huyện C nên vụ án thuốc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại điều khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Căn cứ vào trình bày của các đương sự thì vợ chồng chị Nh, anh Đ1 có vay của bà Ng các lần như sau:
+ Ngày 26/10/2014 vay 180.000.000đồng;
+ Ngày 02/4/2015 số tiền 105.000.000đồng;
+ Ngày 02/6/2016 vay số tiền 299.600.000đồng;
Tổng cộng: 584.600.000đồng số tiền vay được anh Đ1, chị Nh thừa nhận có làm biên nhận nhưng anh, chị cho rằng trong tổng số tiến 584.600.000đồng có lãi cộng vào 184.000.000đồng. Lời trình bày của anh Đ1, chị Nh được bà Ng thừa nhận một phần là trong 03 biên nhận, biên nhận ngày 02/6/2016 số tiền 299.600.000đồng có tiền lãi của 02 lần vay trước đó cộng vào 70.000.000đồng. Như vậy có căn cứ để xác định chị Nh, anh Đ1 đã vay 03 lần vốn 514.600.000đồng. Tuy nhiên, số tiền vốn này tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm ( 4/9/2018 ) vượt hơn 70.000.000đồng nhưng tại phiên tòa bà Ng yêu cầu trả vốn 514.600.000đồng và lãi 70.000.000đồng thấy phù hợp nên chấp nhận yêu cầu của bà.
Xét yêu cầu trả 45.000.000đồng tiền hụi ( hụi chết ) của dây hụi được mở kỳ đầu tiên vào ngày 28/7/2016 của bà Ng được anh Đ1, chị Nh thừa nhận có nợ và đồng ý trả thấy phù hợp nên chấp nhận.
Vậy vợ chồng anh Đ1, chị Nh có nghĩa vụ trả tiền vay cho bà Ng 514.600.000đồng, tiền lãi vay 70.000.000đồng và tiền hụi 45.000.000đồng; tổng cộng 629.600.000đồng.
Về án phí: anh Đ1, chị Nh phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị Quyết về án phí, lệ phí số: 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Và số tiền án phí dân sự sơ thẩm được tính như sau:
Án phí được tính trên số tiền 629.600.000đồng mà anh chị phải trả cho bà Ng là 20.000.000đồng + (229.600.000đồng x 4%) = 29.184.000đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468, 469, 471 Bộ luật dân sự; điều 26 luật thi hành án dân sự; Nghị Quyết về án phí, lệ phí số: 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP, ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu trả tiền vay, lãi, hụi của bà Nguyễn Thị Bích Ng;
- Buộc anh Nguyễn Văn Đ1, chị Nguyễn Thị Nh liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Bích Ng tiền vốn vay 514.600.000đồng, tiền lãi vay 70.000.000đồng và tiền hụi 45.000.000đồng; tổng cộng 629.600.000đồng ( Sáu trăm, hai mươi chín triệu, sáu trăm nghìn).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí:
+ Anh Nguyễn Văn Đ1, chị Nguyễn Thị Nh phải nộp 29.184.000đồng;
+ Bà Nguyễn Thị Bích Ng không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Ng số tiền tạm ứng án phí đã nộp 15.740.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 04691 ngày 18/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Đ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND H; - TAND tỉnh; - Chi cục THADS H; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Châu Văn Sang |