vanban.org

Bản án 52/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 21/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mai Vi N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt chính: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194, Điểm l, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mai Vi N mức án 08 năm tù (Tám năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt (được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2017 đến ngày 12/9… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Mai Vi N mua bán trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mai Vi N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2017/HSST
Ngày: 21-11-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN

SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Dịu Hiền

Bà Ngô Thị Mỹ Lợi

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân - Cán bộ Tòa án nhân dân t

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t

Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2017 tại Khóm A, Phường B,

S, Tòa

xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2017/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN MAI VI N - sinh năm 1990 (có mặt)

- Nơi sinh: thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

- ĐKTT: E, khóm C, Phường B, TP. S, tỉnh Đồng Tháp

- Chỗ ở: Phòng số V, khách sạn B1, khóm T, phường X, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

- Dân tộc: Kinh

- Quốc tịch: Việt Nam

- Nghề nghiệp: Không

- Trình độ văn hóa: 7/12

- Con ông: Nguyễn Văn N, sinh 1958 và bà Võ Thị Thu V1, sinh 1958

- Chồng: Lại Quốc T1, sinh năm 1986 (không có đăng ký kết hôn)

- Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2015

- Anh, chị, em: Có 01 người tên Nguyễn Mai Vi L, sinh năm 1983

- Tiền sự, tiền : Không

- Tạm giữ: Ngày 15/8/2017

- Tạm giam: Ngày 24/8/2017 đến ngày 12/9/2017 được tại ngoại.

-

tại ngoại tại địa chỉ số E, khóm C, Phường B, thành phố S; Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Mai Vi N bị Viện kiểm sát nhân dân

Sa Đéc truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Mai Vi N và Lại Quốc T1 thuê phòng số V, khách sạn B1 thuộc khóm T, phường X, thành phố S sống chung với nhau như vợ chồng. N và T1 là người thường xuyên sử dụng ma túy nên N tìm mua ma túy của Đinh Thanh T2 để sử dụng và bán lại cho người nghiện. Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 15/8/2017 Phan Thanh H đến phòng số V khách sạn B1 gặp và mua của N một bịch ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H trả cho N 200.000 đồng và cất giấu bịch ma túy và túi áo khoác mà H đang mặc, sau đó N mở cửa phòng cho H ra về thì Công an thành phố S tiến hành kiểm tra thu giữ quả tang gồm:

Trong người của H một bịch ma túy (H mua của N mà có).

Tại phòng số V khách sạn B1 ( nơi ở của N) gồm:

- 02 bịch ma túy; số tiền 3.500.000 đồng;

- 02 ống thủy tinh dài khoảng 20cm; 01 cuộn băng keo màu xanh;

- 120 bịch nylon màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng hồng; 01 máy tính bảng hiệu Lenovo màu đen;

- 01 cục sạc dự phòng màu xám; 01 bình tự chế bằng nhựa có gắn nỏ thủy tinh; 03 cây kéo bằng kim loại màu trắng;

- 01 cân tiểu ly màu trắng.

Tại kết luận giám định số 527/KL-KTHS ngày 18/8/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:

“Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 bịch nylon (bịch nhỏ) hàn kín quấn bên ngoài bằng băng keo màu xanh, được niêm phong trong phong bì (ký hiệu M1) gửi giám định là chất ma túy có khối lượng 0,1270gam, loại Methamphetamine.

Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 02 bịch nylon (bịch lớn) hàn kín được niêm phong trong phong bì (ký hiệu M2) gửi giám định đều là chất ma túy có tổng khối lượng 8,1309gam, loại Methamphetamine”.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Mai Vi N khai nhận trong khoảng thời gian từ ngày 05/8/2017 đến ngày 12/8/2017 N còn bán ma túy nhiều lần khác cho Phan Thanh H, Văn Huỳnh Trọng H1 cụ thể như sau:

- Lần 1: Vào ngày 05/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho H1 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng;

- Lần 2: Khoảng 14 giờ ngày 08/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho H 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng;

- Lần 3: Vào khoảng 15 giờ ngày 09/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho H 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng;

- Lần 4: Vào ngày 10/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho H 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng;

- Lần 5: Vào khoảng ngày 11/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho H 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng;

- Lần 6: Vào ngày 12/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho H 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Phan Thanh H, Văn Huỳnh Trọng H1, Trần Phước T3 còn khai nhận đã mua ma túy do N và Lại Quốc T1 bán như sau:

- Đối với Phan Thanh H khai mua ma túy do N, T1 bán:

+ Lần 1: Vào khoảng 10 giờ ngày 13/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho H 01 bịch ma túy với giá 400.000 đồng;

+ Lần 2: Vào khoảng 12 giờ ngày 13/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, T1 bán cho H 02 bịch ma túy với giá 400.000 đồng;

+ Lần 3: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho H 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng.

- Đối với Văn Huỳnh Trọng H1 khai mua ma túy do N, T1 bán:

+ Lần 1: Vào khoảng 12 giờ ngày 12/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, T1 bán cho H1 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng;

+ Lần 2: Vào khoảng 23 giờ ngày 13/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho H1 01 bịch ma túy với giá 800.000 đồng.

- Đối với Trần Phước T3 khai mua ma túy do N, T1 bán:

+ Lần 1: Vào khoảng 10 giờ ngày 20/7/2017 tại phòng số V khách sạn B1, T1 bán cho T3 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng;

+ Lần 2: Vào khoảng 12 giờ ngày 27/7/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho T3 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng;

+ Lần 3: Vào khoảng 09 giờ ngày 03/8/2017 tại phòng số V khách sạn B1, N bán cho T3 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng.

Quá trình điều tra, N không thừa nhận bán ma túy như các lần mà H, H1, T3 khai, đồng thời N khai việc bán ma túy cho những người nghiện là do một mình N thực hiện, T1 không có tham gia bán ma túy.

Đối với T1 khai việc N bán ma túy cho những người nghiện thì T1 biết nhưng T1 không tham gia và có khuyên can N nhưng N vẫn bán ma túy cho đến khi bị bắt.

Quá trình điều tra, xác định số tiền 3.300.000 đồng; 01 cuộn băng keo màu xanh; 01 máy tính bảng hiệu Lenovo màu đen; 01 cục sạc dự phòng màu xám là của Lại Quốc T1, không liên quan đến việc mua bán ma túy của N nên cơ quan điều tra đã hoàn trả lại cho T1 nhận xong.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 31/10/2017, Viện k

đã truy tố bị cáo Nguyễn Mai Vi N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân

Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:

- Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194, Điểm l, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mai Vi N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

07 năm

08 năm

- Về hình phạt bổ sung: Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N.

về xử lý vật chứng và các vấn đề khác

B

không

, xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

khai của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang được lập lúc 13 giờ 00 phút ngày 15/8/2017 của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an thành phố S, phù hợp với lời khai của người người làm chứng,

527/KL-KTHS ngày 18/8/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

đủ cơ sở

: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/8/2017 đến ngày 15/8/2017, tại phòng số V khách sạn B1 thuộc khóm T, phường X, thành phố S, Nguyễn Mai Vi N có hành vi nhiều lần bán ma túy cho những người nghiện nhằm mục đích thu lợi bất chính cho bản thân. Vào ngày 15/8/2017, sau khi N bán ma túy cho Phan Thanh H thì bị Công an kiểm tra thu giữ tổng cộng 03 bịch ma túy có tổng khối lượng 8,2579 gam, loại Methamphetamine.

Theo Danh mục II ban hành kèm Nghị định 82/201

-

-

B chí phấn đấu của người sử dụng. Thế

khoảng thời gian từ khoảng từ ngày 05/8/2017 đến ngày 15/8/2017

bán ma túy cho những người nghiện khác nhằ

12 giờ 15 phút ngày 15/8/2017, tại phòng số V khách sạn B1 thuộc khóm T, phường X, thành phố S, sau khi bị cáo bán 01 bịch ma túy cho Phan Thanh H xong thì bị Công an thành phố S kiểm tra và bắt quả tang. Tang vật gồm 03 bịch ma túy có tổng khối lượng 8,2579 gam, loại Methamphetamine.

ủa bị cáo là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật,… góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, hủy hoại tương lai của một số tầng lớp thanh, thiếu niên, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

phòng số V khách sạn B1 thuộc khóm T, phường X, thành phố S, thường xuyên có lực lượng chức năng kiểm tra và khách ra vào thuê phòng,

người đã thành niên, lại là phụ nữ đã có con, tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe. Lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, cố gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật phục vụ cho nhu cầu bản thân, chăm lo cho con cái

cùng với Lại Quốc T1 sử dụng ma túy và trở thành đối tượng nghiện, để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân, bị cáo có hành vi mua ma túy và nhiều lần bán lại cho những người nghiện khác nhằm mục đích vụ lợi cá nhân để rồi đi vào con đường phạm tội.

Điều 194 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

a). …………

c) …………

Xét thấy, hành vi phạm tội xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. B

iểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải c giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, tu dưỡng bản thân, có ý thức chấp hành pháp luật nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo,

, khi thực hiện hành vi phạm tội thì N đã có thai, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, vì vậy cần áp dụng Điểm l, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt vấn đề giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 200.000 đồng của bị cáo N do phạm tội mà có, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với tinh thể rắn còn lại sau giám định trong 02 phong bì được niêm phong ghi kết luận giám định số 527/1 và 527/2 cùng ghi ngày 18/8/2017 đều có đóng hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng Z và Trần Thị Ý N1; 02 ống thủy tinh dài khoảng 20cm; 120 bịch nylon màu trắng; 01 bình tự chế bằng nhựa có gắn nỏ thủy tinh; 03 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 cân tiểu ly màu trắng là các công cụ sử dụng vào việc sử dụng và mua bán ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với một điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng hồng của bị cáo N cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. đang quản lý).

Về án phí: B

Nguyễn Mai Vi N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Đối với Phan Thanh H, Văn Huỳnh Trọng H1, Trần Phước T3 có hành vi mua ma túy do N bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân các xã L2, xã D thuộc huyện V2, xã T4, huyện T5, xã D1, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp xử lý theo quy định pháp luật.

Việc N khai có mua ma túy của Đinh Thanh T2 bán nhưng qua xác minh hiện nay T2 bỏ địa phương đi đâu không rõ, khi nào tìm được sẽ điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Quá trình điều tra chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lại Quốc T1 về hành vi mua bán ma túy nên không xem xét xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mai Vi N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt chính: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194, Điểm l, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mai Vi N mức án 08 năm tù (Tám năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt (được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2017 đến ngày 12/9/2017).

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

* Về trách nhiệm dân sự: Không

giải quyết.

* Về xử lý vật chứng:

, c

của

sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 200.000 đồng của bị cáo N do mua bán ma túy mà có.

Tịch thu tiêu hủy:

+ Tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì được niêm phong ghi kết luận giám định số 527/1 ghi ngày 18/8/2017;

+ Tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì được niêm phong ghi kết luận giám định số 527/2 ghi ngày 18/8/2017;

Hai phong bì đều có đóng hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng Z và Trần Thị Ý N1.

+ 02 ống thủy tinh dài khoảng 20cm;

+ 120 bịch nylon màu trắng;

+ 01 bình tự chế bằng nhựa có gắn nỏ thủy tinh;

+ 03 cây kéo bằng kim loại màu trắng;

+ 01 cân tiểu ly màu trắng.

Là các công cụ sử dụng vào việc sử dụng ma túy và mua bán ma túy.

Tiếp tục quản lý: 01 (một) một điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng hồng của bị cáo N để đảm bảo thi hành án.

08/11/2017).

Về án phí: Áp dụng

T

:

B

Nguyễn Mai Vi N

200.000 đồng

.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Cỡ chữ