- Tranh chấp gì? án hình sự — "Luu Van Chien - Bị truy tố tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lƣu Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Điều 194 Bộ luật - Xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2017/HSST Ngày 25 - 9 - 2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân
- Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Kim Anh.
2. Bà Nguyễn Thị Nhƣ Trang.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Huế - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình: Bà Trần Thị Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình xét xử vụ án hình sự thụ lý số 56/2017/HSST - ngày 08/9/2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 55/2017/HSST - QĐ ngày 13 tháng 9 năm 2017 đối với:
Bị cáo Lưu Văn C, sinh ngày 14/6/1976 tại xã V huyện V, tỉnh Thái Bình.
Nơi cƣ trú: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; số CMND: 151645882; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; con ông Lƣu Xuân T sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị T sinh năm 1950; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ: Phạm Hồng H sinh năm 1990 và có hai con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016;
Tiền án, Tiền sự: không;
Bị tạm giữ từ ngày 26/6/2017 đến ngày 29/6/2017 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xƣơng. Bị cáo đƣợc trích xuất, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 26/6/2017, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 17H7 - 8536 đến khu vực trƣớc cửa nhà văn hóa thôn 9 xã Vũ Trung, huyện Kiến Xƣơng mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng của một ngƣời đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua đƣợc ma túy, C cất ma túy vào trong túi áo ngực phía trƣớc bên trái rồi quay xe đi về nhà. Khi về đến khu vực cửa nhà anh Nguyễn Văn T thuộc thôn 5 xã V huyện K tỉnh Thái Bình thì bị Tổ công tác của Công an huyện Kiến Xƣơng phát hiện và yêu cầu kiểm tra. Trƣớc sự chứng kiến của 2 ngƣời, Tổ sông tác đã thu giữ tại túi áo ngực đang mặc phía trƣớc bên trái của C 01 gói, bên ngoài gói bằng giấy báo, bên trong chứa chất bột màu trắng đục dạng cục, C khai nhận đó là ma túy vừa mua về để sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng thì bị bắt. Tổ công tác đã yêu cầu C và mời ngƣời làm chứng về trụ sở UBND xã V để lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lập biên bản quản lý phƣơng tiện và niêm phong vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 280/KLGĐ - PC 54 ngày 26/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận:
- Mẫu gửi giám định thu giữ của Lƣu Văn C là ma túy, loại Heroine, có trọng lƣợng là 0,3164gam.
Vật chứng của vụ án: 0,3164 gam Heroin thu của C, sau giám định còn 0,2712 gam chuyển Chi cục thi hành án dân sự quản lý theo quy định pháp luật (bút lục 19).
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 17H7 - 8536 mà bị cáo C đã điều khiển để đi mua ma túy, trong quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của gia đình bị cáo. Ngày 08/8/2017 Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng ra quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Phạm Hồng H là vợ của cáo C.
Tại bản Cáo trạng số 57/KSĐT - ngày 08/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố Lƣu Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lƣu Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc Hội ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội:
Xử phạt bị cáo Lƣu Văn C mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc 0,3164 gam Hêrôin, Lƣu Văn C khai mua của một ngƣời đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng tại khu vực thôn 9 xã Vũ Trung huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình, do không xác định đƣợc ngƣời bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu của Lƣu Văn C 0,2712 gam heroine còn lại sau khi đã giám định trong bao niêm phong số 280/KLGĐ để tiêu hủy.
Về án phí: bị cáo C phải chịu án phí theo quy định càu pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, sớm trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Lƣu Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng
Hành vi phạm tội của bị cáo Lƣu Văn C còn đƣợc chứng minh bằng các chứng cứ sau đây:
- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang do Công an huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình lập ngày 26/6/2017: Hồi 12 giờ 05 phút ngày 26/6/2017 trƣớc cửa nhà anh Nguyễn Văn T sinh năm 1977 thôn 5 xã V huyện K tỉnh Thái Bình, Tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng kết hợp cùng ban công an xã Vũ Hòa huyện Kiến Xƣơng kiểm tra theo thủ tục hành chính đối với Lƣu Văn C đã phát hiện thu giữ tại túi áo ngực đang mặc phía trƣớc bên trái của C 01 gói, đƣợc gói bằng báo, bên trong có chứa chất bột màu trắng đục dạng cục, C khai nhận đó là Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng( Bút lục 03 - 04).
- Biên bản quản lý và niêm phong vật chứng do Công an huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình lập hồi 12 giờ 55 phút ngày 26/6/2017: “ Thu giữ tại túi áo ngực đang mặc bên trái của C 01( một) gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy báo, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Gói nhỏ trên đƣợc niêm phong trong một phong bì viền xanh đỏ. Mặt trƣớc ghi: Vật chứng thu giữ của Lƣu Văn C, SN 1976 thôn T, Vũ Vân, Vũ Thƣ, Thái Bình.…” (Bút lục 14).
- Biên bản kiểm tra và quản lý phƣơng tiện do Công an huyện Kiến Xƣơng lập hồi 12 giờ 40 phút ngày 26/6/2017, (bút lục 15).
- Biên bản ghi lời khai của những ngƣời chứng kiến là anh Đoàn Xuân Q sinh năm 1982, trú tại thôn 1 xã V huyện K và bà Nguyễn Thị T sinh năm 1956 trú tại: thôn 5, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình là những ngƣời chứng kiến việc Tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng kiểm tra, thu giữ gói ma túy tại túi áo đang mặc bên trái của Lƣu Văn C, C khai đó là ma túy mua về sử dụng cho bản thân nhƣng chƣa kịp sử dụng thì bị bắt (Bút lục 09 - 12, 69 - 72).
- Kết luận giám định số số 280/KLGĐ - PC 54 ngày 26/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Lƣu Văn C là ma túy, loại Heroine, có trọng lƣợng là 0,3164gam (Không phẩy ba nghìn một trăm sáu mƣơi tƣ gam) - Bút lục 19.
Từ những căn cứ nêu trên có đủ căn cứ để xác định: Hồi 12 giờ ngày 26/6/2017, tại khu vực trƣớc cửa nhà anh Nguyễn Văn T sinh năm 1977 trú tại thôn 5 xã V huyện K tỉnh Thái Bình, Lƣu Văn C có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nhỏ ma túy loại Heroine có trọng lƣợng 0,3164 gam nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Lƣu Văn C đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
BLHS năm 1999: Điều 194. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý quy định.
"1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ một năm đến năm năm".
BLHS năm 2015: Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy đinh:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Nhƣ vậy quy định của BLHS năm 2015 về hình phạt đối với tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã giảm so với BLHS năm 1999.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc Hội ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội thì các quy định có lợi đƣợc áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trƣớc khi điều luật có hiệu lực thi hành. Do vậy cần áp dụng quy định có lợi cho bị cáo theo các quy định nêu trên.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả của vụ án thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Lƣu Văn C là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma túy, gây nguy hại lớn cho xã hội. Vì tệ nạn ma tuý đang là hiểm hoạ cho toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con ngƣời, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần xử phạt nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian, có nhƣ vậy mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xét đến trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lƣu Văn C là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xét thấy, về nguồn gốc 0,3164 gam Hêrôin, Lƣu Văn C khai mua của một ngƣời đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng tại khu vực thôn 9 xã Vũ Trung huyện K tỉnh Thái Bình, do không xác định đƣợc ngƣời bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: 0,3164 gam Heroin thu giữ của bị cáo, sau khi giám định còn 0,2712 gam là chất ma túy Nhà nƣớc cấm lƣu hành, vì vậy cần tịch thu để tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 41 BLHS và điểm a khoản 2 điều 76 BLTTHS.
Xét thấy, việc Cơ quan Công an huyện Kiến Xƣơng ra quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Phạm Hồng H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 17H7 - 8536 là có căn cứ, đúng pháp luật, cần chấp nhận.
[ 10] Về án phí: Bị cáo Lƣu Văn C phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lƣu Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
- Xử phạt bị cáo Lƣu Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 26/6/2017.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
-Tịch thu của Lƣu Văn C 0,2712 gam Hêrôin còn lại sau khi đã giám định trong phong bì niêm phong số 280/KLGĐ để tiêu hủy (theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng lập ngày 11/9/2017)
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng trả lại cho chị Phạm Hồng H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 17H7 – 8536.
4. Án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lƣu Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/9/2017.
| Nơi nhận: - VKSND KX; - Bị cáo; - THAKX; - CAKX - Lƣu hồ sơ TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG, TỈNH THÁI BÌNH Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Hội thẩm nhân dân: Thái Bình. Căn cứ vào Điều 199 và 222 Bộ luật tố tụng hình sự. huyện K, tỉnh Thái Bình truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, những ngƣời tham gia tố tụng khác tại phiên toà. HĐXX thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án nhƣ sau: 1. Về tội danh: - Kết quả biểu quyết: 3/3. 2. Về điều luật áp dụng: hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 10/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. - Kết quả biểu quyết: 3/3. 3. Về mức hình phạt: tính từ ngày bị tạm giữ 25/4/2017. - Kết quả biểu quyết: 3/3. 4. Về các vấn đề khác: Viết Tuệ trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. hình sự 1999; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: trong phong bì niêm phong số 140/KLGĐ để tiêu hủy (theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K lập ngày 21/7/2017) khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: pháp luật. 4.5 - Kết quả biểu quyết: 3/3 đây. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Xuân CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc + Ông Vũ Xuân Hƣớng – Phó Bí thƣ Đảng ủy xã Bình Minh, huyện K, tỉnh + Ông Mai Xuân Trƣờng - Phó hiệu trƣởng trƣờng THCS xã Hòa Bình, huyện K. Vào hồi 10 giờ 40 phút ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại phòng nghị án HĐXX sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Lê Viết Tuệ bị VKSND Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, trên - Tuyên bố bị cáo Lê Viết Tuệ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật - Xử phạt bị cáo Lê Viết Tuệ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù 4.1 - Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo Lê 4.2 - Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật -Tịch thu của Lê Viết Tuệ 0,2210 gam hêrôin còn lại sau khi đã giám định 4.3 - Về án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a Bị cáo Lê Viết Tuệ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm . 4.4 - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tuệ có quyền kháng cáo theo quy định của Biên bản lập xong. Hội đồng xét xử đã thống nhất thông qua và ký tên dƣới Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thị Thanh Xuân |