- Tranh chấp gì? án hành chính — "khiếu kiện quyết định hành chính về việc thu hồi đất giữa người khởi kiện bà Nguyễn Thị P với người bị kiện UBND thị xã TU"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị P, hủy các quyết định hành chính sau:
- Căn cứ chính? Điều 135 Luật Tố t ng hành chính; Bộ luật Tố t ng dân s và Nghị; Nghị quyết số 103/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2017/HC-ST Ngày 21-11-2017 V/v khiếu kiện quyết định hành chính về việc thu hồi đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Đức Thành;
Ông Văn Văn Tánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Bé - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2017, t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương tiến hành xét x sơ th m v án hành chính th lý số 38/2017/TLST-HC ngày 12 tháng 7 năm 2017 về khiếu kiện quyết định hành chính về việc thu hồi đất theo Quyết định đưa v án ra xét x số 53/2017/QĐ T-HC ngày 03 tháng 11 năm 2017, gi a các đương s :
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1956; địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Ph m Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương, là người đ i diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 23/6/2017); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Thái Thanh H - Luật sư Văn phòng Luật sư Thái Thanh H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Số 069/A, Tổ A, khu phố B, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Ngô Quang S, chức v : Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã TU, là người đ i diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 3347/GUQ-UBND ngày 10/11/2017); có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị MT, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị MT: Ông Ph m Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương, là người đ i diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 21/8/2017); có mặt.
+ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1956; địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
+ Bà Nguyễn Thị KV, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
+ Ông Lê Ngọc D, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Thành H, sinh năm 1948; địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
+ Ông Phan Văn L, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
+ Ông Phan Thành L; địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
Ông N, bà KV, ông D, ông Thành H, ông Văn L, ông Thành L có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện ông Phạm Văn T trình bày:
Bà Nguyễn Thị P là chủ s d ng hợp pháp phần đất có diện tích 15.045 m2, lo i đất: Cây lâu năm, thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59 tọa l c t i khu phố 4, thị trấn UH, huyện TU (nay là khu phố 7, phường UH, thị xã TU), tỉnh Bình Dương. Phần đất này đã được Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất thị trấn UH cấp giấy chứng nhận đăng ký số 15/ĐK ngày 01/7/2005.
Ngày 03/11/2016, bà P nộp đơn t i Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) phường UH, thị xã TU yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất đối với phần đất trên nhưng không được giải quyết nên bà P nộp đơn khiếu n i hành vi hành chính của UBND phường UH.
Ngày 07/6/2017, Chủ tịch UBND phường UH ban hành Quyết định giải quyết khiếu n i số 206/QĐ-UBND, bác đơn khiếu n i của bà P với lý do: UBND phường UH căn cứ vào Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008.
Bà P cho rằng, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành 02 quyết định này là hoàn toàn trái pháp luật, ảnh hư ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà P, vì:
Thứ nhất, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành quyết định thu hồi đất không đúng đối tượng. Toàn bộ phần đất có diện tích 15.045 m2 thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59 tọa l c t i khu phố 4, thị trấn UH thuộc quyền s d ng của bà P, không phải của con bà P là bà Nguyễn Thị MT. Tuy nhiên, cả 02 quyết định trên đều xác định thu hồi đất của bà Nguyễn Thị MT.
Thứ hai, UBND huyện (nay là thị xã) TU không thông báo thu hồi đất, không giao quyết định thu hồi đất cho bà P (là người có đất bị thu hồi). Bà P không nhận được hai quyết định này của UBND huyện (nay là thị xã) TU. Bà P chỉ biết hai quyết định trên khi nhận được Quyết định số 206/QĐ-UBND ngày 07/6/2017 của Chủ tịch UBND phường UH về việc giải quyết khiếu n i của bà P.
Thứ ba, khi ban hành quyết định thu hồi đất, UBND huyện (nay là thị xã) TU không niêm yết t i tr s UBND phường UH (nơi có đất bị thu hồi) theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, bà P kh i kiện yêu cầu hủy Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008.
* Người bị kiện Ủy ban nhân dân thị xã TU trình bày:
Ngày 26/7/2004, UBND tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 3592/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy ho ch đất đầu tư d án C m Công nghiệp và Dịch v thị trấn (nay là phường) UH, huyện (nay là thị xã) TU.
Ngày 05/8/2008, UBND tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 2396/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ và tái định cư d án C m Công nghiệp và Dịch v Thị trấn (nay là phường) UH, huyện (nay là thị xã) TU, tỉnh Bình Dương;
Ngày 12/12/2008, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 8944/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT (ng t i tổ 5, khu phố 7, phường UH) với diện tích 15.045 m2 thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59, thị trấn (nay là phường) UH.
Ngày 26/12/2008, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện (nay là thị xã) TU phối hợp cùng UBND thị trấn (nay là phường) UH tiến hành mời hộ bà Nguyễn Thị MT để công bố và bàn giao Quyết định thu hồi đất số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU. Bà MT có đến d và nhận quyết định nhưng không ký vào biên bản bàn giao quyết định.
Ngày 13/01/2014, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 591/QĐ-UBND về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT. Theo đó, điều chỉnh diện tích đất thu hồi của hộ bà Nguyễn Thị MT từ 15.045 m2 thành 13.214,8 m2. Lý do: Sai lệch diện tích đất thu hồi.
Ngày 23/01/2014, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện (nay là thị xã) TU phối hợp cùng UBND thị trấn (nay là phường) UH tiến hành mời bà Nguyễn Thị MT để công bố và bàn giao Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU. Bà MT không đến nhận quyết định trên.
Cùng ngày 23/01/2014, UBND thị trấn (nay là phường) UH đã lập biên bản về việc niêm yết, công khai quyết định của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc s a đổi Quyết định thu hồi đất của 04 hộ dân (trong danh sách có tên của hộ bà Nguyễn Thị MT) thuộc d án C m Công nghiệp và Dịch v thị trấn (nay là phường) UH, huyện (nay là thị xã) TU, tỉnh Bình Dương.
Mặt khác, ngày 22/8/2012, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 8342/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị P, nội dung: Thu hồi diện tích 1.018 m2 đất do hộ bà P đang quản lý, s d ng thuộc th a số 55, tờ bản đồ số 59 tọa l c t i tổ 5, khu phố 7, phường UH.
T i Văn bản số 2710/UBND-NC ngày 29/9/2017 của UBND thị xã TU trình bày: Việc xác nhận nguồn gốc đất và lập hồ sơ bồi thường, thu hồi đất cho hộ bà P đối với diện tích 1.018 m2 thuộc th a số 55, tờ bản đồ số 59 tọa l c t i tổ 5, khu phố 7, phường UH là không đúng.
Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT t i phường UH và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xem xét và giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị MT trình bày: Bà MT là con ruột của ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị P. Bà MT thống nhất với lời trình bày của bà P về nguồn gốc, quá trình s d ng đất. Đồng thời, thống nhất yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị P.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N trình bày: Phần đất thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59, thị trấn (nay là phường) UH có diện tích khoảng 15.045 m2 do vợ chồng Ông N, bà P khai hoang và trồng tràm từ năm 1975. Đến năm 2002, vợ chồng Ông N, bà P có xây d ng 02 căn nhà cấp 4 để và lập nhiều tr i nuôi gà cho đến nay. Ông N thống nhất yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị P.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị KV trình bày: Bà KV là con ruột của Ông N và bà P. Phần đất thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59, thị trấn (nay là phường) UH có diện tích khoảng 15.045 m2 do vợ chồng ông N, bà P khai hoang và trồng tràm bông vàng từ năm 1975. Năm 2002, cha mẹ bà KV (ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị P) có cắt một phần cây tràm, xây d ng 02 căn nhà cấp 4 để và lập tr i nuôi gà cho đến nay. Đồng thời, cho vợ chồng bà KV trên một căn nhà cấp 4 này và ph nuôi gà đến nay. Bà KV thống nhất yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị P.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Ngọc D trình bày: Ông D là chồng bà KV (con rể của bà P, ông N). Năm 2002, cha mẹ vợ ông D là ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị P có cắt một phần cây tràm, xây d ng 02 căn nhà cấp 4 để và lập tr i nuôi gà trên phần đất thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59, thị trấn (nay là phường) UH cho đến nay. Cha mẹ vợ ông D có cho vợ chồng ông D trên một căn nhà cấp 4 này và ph nuôi gà từ năm 2002 đến nay.
Ông D xác định phần đất thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59, thị trấn (nay là phường) UH là của vợ chồng ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị P. Ông D thống nhất yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị P.
* Người làm chứng ông Nguyễn Thành H trình bày: Ông Thành H là Tổ trư ng tổ 5, khu phố 7, phường UH. Phần đất thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59, thị trấn (nay là phường) UH do vợ chồng bà P, ông N khai hoang và trồng tràm trên đất từ năm 1975. Khoảng năm 1998, vợ chồng bà P, ông N có cất nhà và nuôi gà trên phần đất này, sau đó thì vợ chồng bà Nguyễn Thị MT (con gái bà P) mới đến sinh sống và nuôi gà t i phần đất này.
* Người làm chứng ông Phan Thành L trình bày: Phần đất ông Thành L khai phá và s d ng đến nay giáp với phần đất của vợ chồng bà P thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59, tọa l c t i thị trấn (nay là phường) UH. Phần đất này do vợ chồng bà P, ông N khai hoang và trồng tràm năm 1987. au đó, vợ chồng bà MT đến lập tr i nuôi gà và cất nhà trên phần đất này. Sau khi chồng bà MT chết thì vợ chồng bà P cùng vợ chồng bà KV, ông D (là con gái bà P) mới về và nuôi gà đến nay.
* Người làm chứng ông Phan Văn L trình bày: Phần đất thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59, tọa l c t i thị trấn (nay là phường) UH do vợ chồng bà P, ông N khai hoang từ khoảng năm 1985 và trồng tràm. au đó, vợ chồng bà MT đến lập tr i nuôi gà và cất nhà trên đất. Sau khi chồng bà MT chết thì vợ chồng bà P cùng vợ chồng bà KV, ông D (là con gái bà P) mới về và nuôi gà đến nay.
T i phiên tòa:
Người đ i diện hợp pháp của người kh i kiện vẫn gi nguyên yêu cầu kh i kiện.
Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị P: Đất có nguồn gốc do vợ chồng bà P khai phá và s d ng để trồng tràm và chăn nuôi gà. Trong quá trình quản lý s d ng, bà P có kê khai đăng ký và đã được Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất thị trấn UH cấp giấy chứng nhận đăng ký số 15/ĐK ngày 01/7/2005. Bà P là người có giấy tờ về quyền s d ng đất theo quy định t i Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 nên đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất theo Điều 50 Luật Đất đai năm 2003. Ngoài ra, năm 2012, khi th c hiện d án nâng cấp m rộng đường ĐT 747B, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 8342/QĐ-UBND ngày 22/8/2012 về việc thu hồi 1.018 m2 đất thuộc th a số 55, tờ bản đồ số 59 tọa l c t i tổ 5, khu phố 7, phường UH của hộ bà Nguyễn Thị P. Như vậy, UBND huyện (nay là thị xã) TU đã xác định đây là đất của bà P. Tuy nhiên, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 thu hồi đất của bà Nguyễn Thị MT là không đúng quy định của pháp luật. UBND huyện (nay là thị xã) TU thu hồi đất nhưng không xem xét đến nguồn gốc và quá trình quản lý s d ng đất. Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND huyện (nay là thị xã) TU đã xâm ph m đến quyền lợi của bà P nên bà P yêu cầu hủy hai quyết định này là có căn cứ. Do vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị P, tuyên hủy Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND huyện (nay là thị xã) TU.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Nh ng người tiến hành tố t ng và nh ng người tham gia tố t ng đã th c hiện đúng quy định của Luật Tố t ng hành chính. Về nội dung v án: Có căn cứ xác định diện tích đất bị thu hồi theo Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU chưa được cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất cho ai. Tuy nhiên, bà P đã kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký. Căn cứ lời trình bày của ông Nguyễn Văn T, là cán bộ địa chính phường UH, diện tích đất trên do vợ chồng bà P khai phá từ năm 1975 và s d ng cho đến nay. UBND huyện (nay là thị xã) TU thu hồi đất sai đối tượng, làm ảnh hư ng tr c tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà P. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét x chấp nhận yêu cầu kh i kiện, hủy Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND thị xã TU về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, th m tra, kết quả h i, tranh t ng t i phiên tòa, trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương s , của Luật sư, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét x nhận định như sau:
[1] Về thủ t c tố t ng: Người đ i diện theo ủy quyền của người bị kiện đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối tho i nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Khoản 1, Khoản 2 Điều 135 Luật Tố t ng hành chính, Tòa án lập biên bản không tiến hành đối tho i được và đưa v án ra xét x theo quy định.
T i phiên tòa, người đ i diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND thị xã TU - ông Ngô Quang S; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị KV, ông Lê Ngọc D; người làm chứng ông Nguyễn Thành H, ông Phan Văn L, ông Phan Thành L có đơn xin xét x vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 158 Luật Tố t ng hành chính, Tòa án tiến hành xét x vắng mặt nh ng người này.
Về thời hiệu kh i kiện: Ngày 12/12/2008, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 8944/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT. Ngày 13/01/2014, UBND thị xã TU ban hành Quyết định số 591/QĐ-UBND về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU. Các quyết định này không được giao cho bà P. Ngày 03/11/2016, bà P nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất t i UBND phường UH. Do không nhận được văn bản trả lời của UBND phường UH nên bà P khiếu n i. Ngày 07/6/2017, Chủ tịch UBND phường UH ban hành Quyết định số 206/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu n i của bà P, nội dung bác đơn khiếu n i của bà P, lý do: UBND phường UH căn cứ vào Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 nên không lập thủ t c cấp giấy chứng nhận quyền s d ng cho bà P. Thời điểm này, bà P mới biết được Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008. Ngày 28/6/2017, bà Nguyễn Thị P nộp đơn kh i kiện t i Tòa án nhân tỉnh Bình Dương, yêu cầu hủy các quyết định trên. Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 116, Điều 118 Luật Tố t ng hành chính; Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố t ng dân s và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố t ng hành chính, việc kh i kiện của bà Nguyễn Thị P là trong thời h n luật định, hình thức và nội dung đơn kh i kiện đúng quy định của Luật Tố t ng hành chính.
Về th m quyền ban hành quyết định: Căn cứ các Điều 126, Điều 127 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Khoản 2 Điều 44 Luật Đất đai năm 2003, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 là đúng th m quyền.
Về nội dung quyết định:
Về nguồn gốc đất: Phần đất bà Nguyễn Thị P đang khiếu n i có diện tích 15.045 m2, lo i đất: Cây lâu năm, thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59 tọa l c t i khu phố 4, thị trấn UH, huyện TU (nay là khu phố 7, phường UH, thị xã TU), tỉnh Bình Dương, do bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn N khai hoang từ sau giải phóng và trồng tràm. Phần đất này đã được Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất thị trấn UH cấp giấy chứng nhận đăng ký số 15/ĐK ngày 01/7/2005 nhưng không cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất do thuộc diện tích đất quy ho ch.
Về quá trình ban hành quyết định: Ngày 26/7/2004, UBND tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 3592/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy ho ch đất đầu tư d án C m Công nghiệp và Dịch v Thị trấn (nay là phường) UH, huyện (nay là thị xã) TU, tỉnh Bình Dương. Ngày 05/8/2008, UBND tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 2396/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ và tái định cư d án C m Công nghiệp và Dịch v Thị trấn (nay là phường) UH, huyện (nay là thị xã) TU, tỉnh Bình Dương. Ngày 12/12/2008, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 8944/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT (ng t i tổ 5, khu phố 7, phường UH) với diện tích 15.045 m2 thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59, thị trấn (nay là phường) UH. Ngày 13/01/2014, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 591/QĐ-UBND về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT ng t i tổ 5, khu phố 7, phường UH. Theo đó, điều chỉnh diện tích đất thu hồi của hộ bà Nguyễn Thị MT từ 15.045 m2 thành 13.214,8 m2. Lý do: Sai lệch diện tích đất thu hồi.
Ngoài ra, cũng th a đất trên, ngày 16/02/2012, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện TU (nay là Chi nhánh Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã TU) lập Biên bản kiểm kê số 327/BBKK về đất đai và các tài sản trên đất đối với hộ bà Nguyễn Thị P. Trong đó, diện tích kiểm kê đất là 1.018 m2 thuộc một phần th a đất số 55 tờ bản đồ 59. Ngày 22/8/2012, UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 8342/QĐ-UBND về việc “Thu hồi diện tích 1.018 m2 đất do hộ bà Nguyễn Thị P đang sử dụng, thường trú tại khu phố 7, thị trấn UH, huyện TU, tỉnh Bình Dương, thuộc một phần thửa đất số 55 tờ bản đồ 59 tại thị trấn UH, chưa được UBND huyện TU cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, theo trích đo địa chính do Trung tâm phát triển quỹ đất huyện TU xác lập. Loại đất: CLN: 1.018 m2. Lý do thu hồi: Thực hiện công trình nâng cấp, mở rộng đường ĐT 747B đoạn từ nút giao Miếu Ông Cù đến điểm giao với đường Thủ Biên – Cổng Xanh”.
Như vậy, cùng một th a đất nhưng UBND huyện (nay là thị xã TU) đã ban hành 02 quyết định thu hồi đất t i hai thời điểm khác nhau đối với hai cá nhân khác nhau là trái quy định của pháp luật.
Xét về nguồn gốc đất và quá trình quản lý s d ng diện tích đất bị thu hồi: Theo lời khai của người kh i kiện bà Nguyễn Thị P và nh ng người có quyền lợi, nghĩa v liên quan gồm ông Nguyễn Văn N (chồng bà P), bà Nguyễn Thị MT, bà Nguyễn Thị KV, ông Lê Ngọc D (các con của bà P) thì phần đất bị thu hồi theo Quyết định 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 và Quyết định 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND huyện (nay là thị xã) TU có nguồn gốc do vợ chồng bà Nguyễn Thị P khai hoang và trồng cây tràm từ sau giải phóng. Khoảng năm 2002, vợ chồng bà P lập tr i chăn nuôi gà và xây d ng 2 ngôi nhà trên đất, vợ chồng bà P cho bà MT và vợ chồng ông D, bà KV t i hai ngôi nhà này để ph với bà P chăn nuôi gà. Năm 2005, bà P có kê khai đăng ký và được Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất thị trấn UH cấp Giấy đăng ký số 15/ĐK ngày 01/7/2005. Ý kiến của người kh i kiện và nh ng người có quyền lợi, nghĩa v liên quan phù hợp với chứng cứ do người kh i kiện cung cấp, phù hợp với lời khai của nh ng người làm chứng gồm ông Nguyễn Thành H, ông Phan Thành L và ông Phan Văn L là nh ng người sinh sống lâu năm gần nơi có phần đất bị thu hồi, đồng thời phù hợp với biên bản xác minh ngày 18/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương t i UBND phường UH.
T i Văn bản số 2515/UBND-NC ngày 12/9/2017, UBND thị xã TU thừa nhận: “Ngày 01/7/2005, bà Nguyễn Thị P có kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất t i thị trấn UH…”. Bên c nh đó, năm 2012 khi th c hiện công trình nâng cấp, m rộng đường ĐT 747B đo n từ nút giao Miếu Ông Cù đến điểm giao với đường Thủ Biên – Cổng Xanh, UBND huyện (nay là thị xã TU) đã lập biên bản kiểm kê về đất đai và tài sản trên đất số 327/BBKK ngày 16/02/2012, nội dung biên bản xác định bà P là chủ s d ng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc d án, biên bản có ch ký xác nhận của bà P và các cán bộ đ i diện UBND huyện (nay là thị xã) TU tham gia kiểm kê. Đồng thời, t i đơn xác nhận nguồn gốc đất, UBND thị trấn UH xác nhận “Bà Nguyễn Thị P hiện đang s d ng, không có tranh chấp”.
Do vậy có căn cứ xác định, diện tích đất 15.045 m2 thuộc th a đất số 55, tờ bản đồ số 59, thị trấn (nay là phường) UH có nguồn gốc do vợ chồng bà Nguyễn Thị P khai phá và quản lý s d ng từ sau năm 1975, có đăng ký kê khai theo quy định. Mặc dù chưa được cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất nhưng bà P là chủ thể s d ng diện tích đất này, việc UBND huyện (nay là thị xã) TU ban hành Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 và Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT là không đúng chủ thể s d ng đất, ảnh hư ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà P. Mặt khác, Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 xác định diện tích đất bị thu hồi là toàn bộ diện tích thuộc th a số 55, tờ bản đồ số 59, thị trấn (nay là phường) UH nhưng sau đó l i ban hành Quyết định số 8342/QĐ-UBND ngày 22/8/2012 thu hồi phần diện tích 1.018m2, thuộc một phần diện tích đất trên là có s trùng lắp. Tuy nhiên, hiện nay Quyết định số 8342/QĐ-UBND ngày 22/8/2012 của UBND huyện (nay là thị xã) TU đã có hiệu l c, việc hỗ trợ, bồi thường cho bà P cũng đã th c hiện xong, bà P không có khiếu n i nên không cần thiết đề cập giải quyết đối với quyết định này, UBND thị xã TU cần lưu ý khi ban hành quyết định hành chính có liên quan đến diện tích đất thuộc th a số 55, tờ bản đồ số 59 t i phường UH.
Từ nh ng nhận định trên, Hội đồng xét x xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của người kh i kiện, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kh i kiện và ý kiến của Kiểm sát viên, hủy Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT; hủy Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT.
Về án phí hành chính sơ th m: Do yêu cầu kh i kiện được chấp nhận nên người kh i kiện không phải chịu án phí hành chính sơ th m. Người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ th m theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 30, Điều 32, Điều 55, Điểm b Khoản 2 Điều 193 Luật Tố t ng hành chính năm 2015;
Căn cứ Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Khoản 2 Điều 32 và Khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Nguyễn Thị P, hủy các quyết định hành chính sau:
- Hủy Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT.
- Hủy Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 về việc s a đổi Quyết định số 8944/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND huyện (nay là thị xã) TU về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị MT ng t i tổ 5, khu phố 7, phường UH.
2. Về án phí: Ủy ban nhân dân thị xã TU phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ th m. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) t m ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0010693 ngày 03/7/2017 của C c Thi hành dân s tỉnh Bình Dương.
Đương s có mặt có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương s vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ th m hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương s 09; - VKSND tỉnh Bình Dương 01; - C c THADS tỉnh Bình Dương 01; - Lưu: H VA, Tổ HCTP 03. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Thanh |