vanban.org

Bản án 519/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 19/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Phạm Xuân Ngh 48( bốn mươi tám)tháng tù về tội Cướp tài sản.

Xử phạt Phan Thanh H 42 ( bốn mươi hai) tháng tù về tội Cướp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 01/9/2018. Về hình phạt bổ sung: căn cứ khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự; phạt Phạm Xuân Ngh 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước; không áp dụng hình phạt bổ sung l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Xuân Ngh và đồng bọn - Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Phạm Xuân Ngh 48( bốn mươi tám)tháng tù về tội Cướp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊNĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 519/2018/HSST
Ngày: 19/12/2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Hoàng Quý Sửu Các hội thẩm nhân dân:1. Ông Trần Trọng Tú

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà:Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà:Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng12năm 2018 tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:526/HSST ngày 03/12/2018 đối với cácbị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Xuân Ngh; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 11 tháng 01 năm 1989; Đăng ký HKTT: xóm Q, xã S, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; học vấn: 12/12; đảng, chính quyền, đoàn thể: không; con ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 01/9/2018 đến ngày 22/11/2018, được thay đổi biện pháp ngăn chặn; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phan Thanh H; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 02 tháng 10 năm 1990; Đăng ký HKTT: 103 L, phường 1, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tạm trú tại: xóm Q, xã S, thành phố Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Tự do; học vấn: 12/12; là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 132/QĐ-KT ngày 10/12/2018; con ông Phan Văn Nh và bà Ngô Thị Bích T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 01/9/2018 đến nay; có mặt tại phiên tòa;

Bị hại:anh Phùng Thế T, inh năm 1992;

Địa chỉ: xóm S, xã S, thành phố Thái Nguyên; vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:Anh Hà Hồng Q, sinh năm 1980

Địa chỉ: tổ 17, phường Q, thành phố Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2018, anh Phùng Thế T có vay của Phạm Xuân Ngh 12.000.000 đồng, sau khi vay tiền, T không có tiền trả, Ngh đã nhiều lần tìm anh T để đòi tiền nhưng không gặp. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày27/5/2018, Ngh biết anh T đang uống bia tại quán bia T của chị S, thuộc xóm Đ, xã S, thành phố Thái Nguyên, nên Ngh gọi điện cho Nguyễn Tiến Tr, sinh năm:1990; HKTT: xóm 9, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, nhờ Tr đến quán của chị S giữ anh T lại đợi Ngh đến giải quyết việc vay tiền. Lúc này Phan Thanh H và Dương Quang T1 đều là bạn của Ngh đang ở cùng với Tr nên cả ba cùng nhau đi đến quán của chị S để gặp anh T. Đến nơi, Tr đi vào khu vực bàn anh T đang ngồi và nói “Thế mày nợ tiền anh Ngh mày không trả mà còn chửi gì?”, anh T đứng dậy bỏ chạy vào khu vực bên trong quán, Tr đuổi theo dùng tay trái túm vào áo phía sau lưng của anh T làm anh T ngã ngửa xuống đất. Tr dùng chân phải đạp 01 phát từ trên xuống trúng vào phần vai trái của anh T, anh T vùng dậy bỏ chạy thì H lao vào dùng tay phải đấm vào người anh T. Tr lấy thân mình đè anh T xuống, dùng 02 tay bẻ tay của anh T về phía sau. Tr cầm vỏ chai bia Sài Gòn màu xanh loại 330ml trên bàn định đánh anh T thì H can ngăn, Tr bảo T1 đi tìm dây mục đích để trói anh T lại nhưng không có dây. Chị S, chủ quán can ngăn không cho đánh nhau tại quán thì Tr, H yêu cầu anh T đi ra ngoài khu vực cửa quán để đợi Ngh. Khoảng 10 phút sau, Ngh điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INNOVA BKS: 20A – 061.73 đi đến, Ngh bảo anh T đi về xưởng sửa chữa ô tô của gia đình Ngh tại xóm 7, xã S, thành phố Thái Nguyên để giải quyết việc nợ nần, anh T đồng ý. H và anh T lên xe ô tô cùng Ngh đi về xưởng sửa chữa ô tô, T1 đi xe máy theo sau còn Tr đi về.

Tại xưởng sửa chữa ô tô, Ngh, H và anh T ngồi tại bàn uống nước của xưởng còn T1 nghe điện thoại đứng cách đó khoảng 10m. Do anh T khất nợ nên Ngh đã tát 01 cái vào má bên phải của anh T rồi Ngh đi vào gầm giường trong phòng lấy 01 dùi cui cao su cầm ở tay phải đánh 02 phát vào lưng của anh T và hỏi “bao giờ mày trả tiền tao” mục đích để anh T trả tiền nhưng anh T xin khất. Lúc này, Ngh, H ép anh T phải gọi điện về cho người nhà để trả số tiền anh T vay nợ của Ngh là 12.000.000 đồng, nhưng anh T không được ai giúp đỡ, H đã lấy dùi cui cao su của Ngh đánh 02 phát vào tay trái và sườn trái của anh T. Anh T xin trả dần theo tháng, H thấy T không có tiền trả luôn cho Ngh nên bảo với Ngh “thôi, nó chưa có thì để nó trả dần, cho nó viết giấy như nó hẹn cũng được”. Nói xong, H có điện thoại nên đi ra ngoài nghe. Ngh thấy H nói vậy nên lấy 01 bút bi mực xanh nhãn hiệu Thiên Long, 01 quyển sổ tay ngoài bìa có chữ NOTE BOOK, xé lấy 02 tờ giấy, Ngh đọc cho anh T viết 01 giấy thuê xe, trong đó thể hiện anh T mượn của anh Đào Sỹ Thủy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu sơn đen, BKS: 20E1-18982 để đi lại (Ngh lấy tên người cho mượn là anh Thủy vì anh Thủy là chủ đăng ký xe đã bán chiếc xe này cho Ngh) và 01 giấy bán xe với nội dung anh T bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu sơn đen, BKS: 20E1-18982 cho Ngh với giá 20.000.000 đồng rồi yêu cầu anh T ký vào 02 tờ giấy trên. Lúc này, vì anh T vừa bị Ngh và H đánh, nếu không làm theo yêu cầu của Ngh thì sẽ tiếp tục bị đánh nên phải miễn cưỡng viết theo yêu cầu của Ngh. Sau khi viết xong, Ngh dọa anh T là nếu không trả tiền cho Ngh thì Ngh sẽ làm đơn trình báo đến Cơ quan Công an rồi Ngh cho anh T về.

Vào 21 giờ 20 phút cùng ngày, anh T đến Công an xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên trình báo sự việc. Biết anh T đi trình báo Cơ quan Công an, nên khoảng 6 giờ 15 phút ngày 28/5/2018, Ngh gọi điện nhờ anh trai ruột là Phạm Xuân K, sinh năm: 1986, HKTT: Xóm Q, xã S, thành phố Thái Nguyên, tới xưởng sửa chữa ô tô lấy 02 tờ giấy thuê xe và bán xe mà Ngh yêu cầu anh T viết đem đi đốt, anh K đã đốt 02 tờ giấy trên theo yêu cầu của Ngh.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập hồi 02 giờ ngày 28/5/2018 tại Công an thành phố Thái Nguyên, thể hiện anh Phùng Thế T có dấu vết sau:

- Tại vị trí đầu bên phải cách mang tai phải 05cm có 01 vết thương hở rớm máu kích thước 2 x 0,5cm;

- Tại bả vai phải có 03 vết bầm tím kích thước lần lượt là: 12,5x 1,5cm; 12 x 1,5cm; 22 x 1,5cm;

- Tại cánh tay trái có 02 vết bầm tím dưới da không chảy máu kích thước lần lượt là: 30 x 2cm; 11 x 2cm;

- Tại sườn trái có 02 vết bầm tím dưới da không chảy máu kích thước lần lượt là: 6 x 3cm; 5,5 x 2,5cm;

- Tại thắt lưng trái có 01 vết bầm tím không chảy máu kích thước 1,5 x 1,5cm.

Tại bản kết luận giám định số 235/TgT ngày 20/7/2018 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Phùng Thế T là 03%.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Xuân Ngh, Phan Thanh H khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, ngoài ra Ngh khai bản thân Ngh không bàn bạc hay nhờ Tr, H, T1 đánh anh T và đòi nợ hộ cho Ngh, Ngh nảy sinh ý định bắt anh T viết giấy thuê xe và giấy bán xe khi về xưởng và khi thấy H bảo cho anh T viết giấy để đảm bảo.

Về trách nhiệm dân sự: Phạm Xuân Ngh đã bồi thường cho anh T số tiền 10.000.000 đồng, Phan Thanh H đã tự nguyện nộp 2.000.000 đồng và tác động đến người nhà của H bồi thường cho anh T 5.000.000 đồng, anh T không yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ngh, H, Tr, T1.

Vật chứng của vụ án:

- 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INNOVA BKS: 20A – 061.73; 01 đăng ký xe ô tô số 004444 mang tên Trần Thế C (Sinh năm 1983, HKTT: Phú Lương, Lương Phú, Phú Bình, Thái Nguyên), ngày 21/6/2018, anh C đã bán chiếc xe này cho anh Phạm Xuân B, sinh năm 1981, HKTT: Xóm Q, xã S, thành phố Thái Nguyên, là anh trai ruột của Phạm Xuân Ngh, Ngh mượn của anh B để sử dụng, anh B không biết Ngh sử dụng chiếc xe trên đưa anh T về xưởng sửa chữa ô tô để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh B quản lý, sử dụng.

- 01 giấy thuê xe và 01 giấy bán xe với giá 20.000.000 đồng do Phạm Xuân Ngh yêu cầu anh Phùng Thế T viết hiện không thu hồi được.

- 01 hợp đồng vay tiền có nội dung cả chữ viết tay và đánh máy có chữ ký tại phần bên cho vay là Phạm Xuân Ngh, bên vay tiền là Phùng Thế T, số tiền vay là 12.000.000 đồng, do Phạm Xuân Ngh giao nộp được chuyển theo hồ sơ vụ án.

- 01 đăng ký mô tô, xe máy số 0004421 mang tên Hà Hồng Q, BKS: 20L3-3243 (anh T đưa cho Ngh để làm tin khi vay số tiền 12.000.000 đồng);

- 01 cuốn sổ hình chữ nhật có kích thước 13,5cmx19,5cm, bìa giả da màu xanh đậm, trên bìa có chữ Note book sổ tay, trong cuốn sổ có một số trang có chữ viết tay;

- 01 bút bi nhãn hiệu Thiên Long vỏ màu xanh trắng, ngòi bút có mực màu xanh, đã qua sử dụng;

- 01 gậy màu đen, hình trụ, chất liệu bằng cao su KT: dài 51,5cm, đường kính 2,5cm;

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu sơn đen, số khung: 421XDY115129, số máy: JF42E0115145, BKS: 20E1-189.82;kèm 01 chứng nhận đăng ký mô tô xe máy số 002654 mang tên Đào Sỹ Thủy.

Tại bản cáo trạng số 514/CT-VKSTPTN ngày 30/11/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyênđã quyết định truy tố Phạm Xuân Ngh, Phan Thanh H về tội " Cướp tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Phạm Xuân Ngh, Phan Thanh H khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng số514/CT-VKSTPTN ngày 30/11/2018, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Xuân Ngh, Phan Thanh H phạm tội " Cướp tài sản"

- Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Phạm Xuân Ngh từ 48 đến 54 tháng tù; Phan Thanh H từ 36 đến 42 tháng tù; áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Phạm Xuân Ngh từ 10 đến 15 triệu đồng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Phan Thanh H.

Về trách nhiệm dân sự: không xem xét;

Về vật chứng:Tạm giữ của Phạm Xuân Ngh chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu sơn đen, BKS: 20E1-189.82; kèm 01 chứng nhận đăng ký mô tô xe máy số 002654 mang tên Đào Sỹ Thủy; trả lại Hà Hồng Q 01 đăng ký mô tô, xe máy số 0004421, BKS: 20L3-3243 mang tên Hà Hồng Q; tịch thu tiêu hủy các vật chứng khác.

Trong phần tranh luận: các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, Phạm Xuân Ngh, Phan Thanh H đã có hành vi dùng tay đánh, tát, dùng gậy cao su là hung khí nguy hiểm đánh anh Phùng Thế T, gây thương tích cho anh T 03% sức khỏe, buộc anh T phải viết giấy thuê xe mô tô và bán xe mô tô nhằm chiếm đoạt số tiền 20.000.000của anh T.

Các bị cáo dùng gậy cao su là hung khí nguy hiểmđánh anh T mục đích nhằm chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng, đủ yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản, định khung tăng nặng theo điểm d khoản 2 Điều 168Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số514/CT-VKSTPTN ngày 30/11/2018VKSND thành phố Thái Nguyên truy tố Phạm Xuân Ngh và Phan Thanh H theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

Trong vụ án này, Phạm Xuân Ngh là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện tội phạm, Phan Thanh H tham gia thực hiện tội phạm với vai trò là đồng phạm tích cực, Ngh phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với H.

Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo Ngh, H đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, sau khi phạm tội đã thực sự thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại.

Nguyên nhân dẫn đến các bị cáo phạm tội là do bị hại vay số tiền 12.000.000 đồng của bị cáo Ngh từ tháng 01/2018, nhưng trốn tránh không trả, khi bị cáo yêu cầu bị hại gọi điện thoại nhờ người nhà trả giúp, nhưng không được, dẫn đến bị cáo bức xúc, đánh bị hại, nhằm chiếm đoạt tài sản, bị hại cũng có một phân lỗi. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và lời đề nghị của bị cáo, bị hại, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nhưng nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Phạm Xuân Ngh. Đối với Phan Thanh H thực hiện tội phạm nhưng không có mục đích hưởng lợi gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã được bồi thường, không có ý kiến đề nghị gì, nên không xem xét.

Về vật chứng: tạm giữ của Phạm Xuân Ngh chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu sơn đen, BKS: 20E1-189.82; kèm 01 chứng nhận đăng ký mô tô xe máy số 002654 mang tên Đào Sỹ Thủy để đảm bảo thi hành án; trả lại Hà Hồng Q 01 đăng ký mô tô, xe máy số 0004421, BKS: 20L3-3243 mang tên Hà Hồng Q; tịch thu tiêu hủy các vật chứng khác.

Các bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, Phạm Xuân Ngh, Phan Thanh H có hành vi đưa anh Phùng Thế T tới xưởng sửa chữa ô tô của gia đình Ngh tại xóm 7, xã S, thành phố Thái Nguyên. Tuy nhiên, anh T xác định là do anh tự đi, không bị ai bắt, giữ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không xử lý đối với Ngh, H.

Đối với hành vi dùng chân tay không gây thương tích cho anh Phùng Thế T của Nguyễn Tiến Tr và Phan Thanh H tại quán bia Thanh T1 thuộc khu vực xóm Đ, xã S thành phố Thái Nguyên, hiện anh T có đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Tr, H và không có yêu cầu đề nghị gì về thương tích của mình, Công an thành phố Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tr, H về hành vi “xâm hại sức khỏe của người khác” theo quy định.

Phạm Xuân Ngh có hành vi tàng trữ dùi cui là công cụ hỗ trợ nhưng không có giấy phép, UBND thành phố Thái Nguyên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Phạm Xuân Ngh 48( bốn mươi tám)tháng tù về tội Cướp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày01/9/2018 đến ngày 22/11/2018.

Xử phạt Phan Thanh H 42 ( bốn mươi hai) tháng tù về tội Cướp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 01/9/2018.

2.Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Phan Thanh H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: căn cứ khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự; phạt Phạm Xuân Ngh 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Phan Thanh H.

4. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.

5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tạm giữ của bị cáo Phạm Xuân Ngh 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu đen, số khung: 421XDY115129, số máy: JF42E0115145, BKS: 20E1-189.82, dung tích xi lanh 124,8cc, tình trạng xe đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu; kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy số 002654 mang tên Đào Sỹ Thủy để đảm bảo thi hành án;

- Trả lại anh Hà Hồng Q 01 đăng ký mô tô, xe máy số 0004421 mang tên Hà Hồng Q, BKS: 20L3-3243;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cuốn sổ hình chữ nhật có kích thước 13,5cmx19,5cm, bìa giả da màu xanh đậm, trên bìa có chữ “ Note book sổ tay”, trong cuốn sổ có một số trang có chữ viết tay;01 bút bi nhãn hiệu Thiên Long, vỏ màu xanh trắng, ngòi bút có mực màu xanh, đã qua sử dụng; 01 gậy màu đen, hình trụ, chất liệu bằng cao su KT: dài 51,5cm, đường kính 2,5cm;

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 66 ngày 26/11/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

7. Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; buộc các bị cáo Phạm Xuân Ngh, Phan Thanh H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ