- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn anh P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 519/2017/HNGĐ-ST Ngày 17 - 8 - 2017 V/v ly hôn tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hương.
2. Ông Nguyễn Văn Chương.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 392/2017/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 271/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị T; Địa chỉ: Xóm C, TS, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
- Bị đơn: Anh P; Địa chỉ: Xóm C, TS, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh P kết hôn với nhau vào năm 2007, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Sau khi cưới, vợ chồng về chung sống tại xóm C, TS, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến đầu 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng trong sinh hoạt hàng ngày, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng và vợ chồng đã ly thân nhau từ đầu năm 2017 đến nay. Nay, chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn anh P; Về con chung: Chị T trình bày vợ chồng có một con chung tên L sinh ngày 13 tháng 9 năm 2009. Hiện nay con đang do chị T nuôi. Khi ly hôn, chị T đề nghị được tiếp tục nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con chị T không đề nghị Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: Chị T trình bày vợ chồng có một số tài sản chung nhưng để vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, nếu không xong sẽ có đơn đề nghị Tòa án giải quyết sau.
Ý kiến và đề nghị của bị đơn: Về quan hệ hôn nhân: Thừa nhận với trình bày của chị T về thời gian và điều kiện kết hôn, về mâu thuẫn vợ chồng. Nhưng theo anh P nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T có quan hệ bên ngoài không nghiêm túc. Vợ chồng đã ly thân nhau từ đầu năm 2017 đến nay. Nay, chị T xin ly hôn, anh P không đồng ý; Về con chung: Thừa nhận với trình bày của chị T về con chung. Khi ly hôn anh cũng đề nghị xin được nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con để anh chị tự bàn bạc thống nhất với nhau, không đề nghị Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: Đồng ý với lời trình bày của chị T, vợ chồng có một số tài sản chung nhưng để vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, nếu không xong sẽ có đơn đề nghị Tòa án giải quyết sau.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị T được ly hôn, giao cho chị T được nuôi con. Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
Các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn số 12, quyển số 01/2009 của Ủy ban nhân dân xã K xác định chị T và anh P kết hôn với nhau vào ngày ngày 9 tháng 02 năm 2009; Bản tự khai của cháu L mong muốn được ở với mẹ; Tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương, thôn xác định vợ chồng có mâu thuẫn từ năm 2016, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp vợ chồng ly thân nhau từ đầu năm 2017 đến nay, mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhưng không thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P được xác lập vào năm 2007 là hợp pháp. Tài liệu chứng cứ thu thập được thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Vợ chồng đã ly thân nhau từ đầu năm 2017 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập anh P hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa xét xử vụ án, nhưng anh P đều vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện anh P không muốn hòa giải và chỉ gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án. Chứng tỏ, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của chị T là phù hợp Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xác định vợ chồng có một con chung tên L sinh ngày 13 tháng 9 năm 2009. Chị T và anh P đều đề nghị được nuôi con. Cháu L có mong muốn được ở với mẹ và hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi con chung. Do vậy giao con cho chị T trực tiếp nuôi là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh P thống nhất vợ chồng tự thỏa thuận giao nhận cho nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Xác định vợ chồng có một số tài sản chung nhưng để vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, nếu không xong sẽ có đơn đề nghị Tòa án giải quyết sau. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn anh P.
2. Về con chung: Giao cho chị T trực tiếp nuôi con chung tên L sinh ngày 13 tháng 9 năm 2009. Việc nuôi con được thực hiện cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
2. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001027 ngày 06 tháng 6 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện Thủy Nguyên; - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên; - UBND xã K; - Đương sự; - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Sơn |