- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thanh B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 517/2026/HNGĐ-ST Ngày: 31/3/2026 V/v: Tranh chấp về ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Ẩn;
2/ Bà Hoàng Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 556/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 309/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 674/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đinh Thị B, sinh năm: 1985;
Địa chỉ: Nhà không số (B) ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx do Bộ C cấp ngày 14/5/2025.
2. Bị đơn: Ông Đinh Thanh H, sinh năm: 1981;
Địa chỉ: Nhà không số (B) ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 17/8/2021.
(Bà B có mặt, ông H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn đề ngày 22/9/2025 và trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đinh Thị B trình bày:
Bà và ông Đinh Thanh H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 141, Quyển số Một/2007 do Ủy ban nhân dân phường A, tỉnh Gia Lai (xã N, huyện A, tỉnh Bình Định cũ) cấp ngày 28/12/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong những năm gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, lối sống. Bà và ông Đinh Thanh H nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, mặc dù cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà nhưng bà và ông Đinh Thanh H đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài hơn được nữa. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đinh Thanh H.
Về quan hệ vợ chồng: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Đinh Thanh H.
Về con chung: Bà và ông Đinh Thanh H có 01 (một) con chung tên là Đinh Tiến T, sinh ngày 27/12/2008; giới tính: Nam. Bà đề nghị sau khi ly hôn, Bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Đinh Tiến T và yêu cầu ông Đinh Thanh H cấp dưỡng nuôi con 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng)/tháng. Tuy nhiên, vì con chung sắp đủ 18 tuổi nên bà không yêu cầu ông Đinh Thanh H phải cấp dưỡng nuôi con nữa.
Về tài sản chung: Bà xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Đinh Thanh H vắng mặt không tham gia phiên hòa giải vì vậy không ghi nhận ý kiến của bị đơn.
Tại phiên tòa hôm nay:
* Nguyên đơn bà Đinh Thị B có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong đơn xin ly hôn, cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị B yêu cầu được ly hôn với ông Đinh Thanh H;
Về con chung: Bà Đinh Thị B xác nhận bà và ông Đinh Thanh H có 01 con chung tên là Đinh Tiến T, sinh ngày 27/12/2008; giới tính: Nam. Bà đề nghị sau khi ly hôn, Bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Đinh Tiến T và không yêu cầu ông Đinh Thanh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Đinh Thị B xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Đinh Thị B xác nhận bà và ông Đinh Thanh H xác nhận không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Đinh Thanh H vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát và đương sự đúng quy định tại Điều 195; Điều 196 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Đinh Thị B khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Đinh Thanh H. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn ông Đinh Thanh H hiện cư trú cùng Đinh Thị B tại địa chỉ: Nhà không số (B) ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục tố tụng dân sự.
- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho ông Đinh Thanh H như: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần 2. Tuy nhiên, ông Đinh Thanh H vẫn vắng mặt không có lý do0. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Đinh Thanh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về nội dung:
. Xét yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của bà Đinh Thị B đối với ông Đinh Thanh H:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 141, Quyển số Một/2007 do Ủy ban nhân dân phường A, tỉnh Gia Lai (xã N, huyện A, tỉnh Bình Định cũ) cấp ngày 28/12/2007 cho bà Đinh Thị B và ông Đinh Thanh H thì việc kết hôn giữa bà Đinh Thị B và ông Đinh Thanh H là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa bà Đinh Thị B và ông Đinh Thanh H là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy, vợ chồng phải yêu thương, thấu hiểu, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà B thì nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà B và ông H là do bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình không hòa hợp, mặc dù cả hai vẫn chung sống dưới một mái nhà nhưng bà B và ông H không còn quan tâm đến nhau. Quá trình bà B nộp đơn ly hôn, ông H cũng biết nhưng không quan tâm, bà B nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không mang lại niềm vui, hạnh phúc cho bà B và con trai, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà B yêu cầu được ly hôn ông H.
Xét thấy, việc bà B và ông H là vợ chồng nhưng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông H vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nguyện vọng của mình, thể hiện ông H không có thiện chí đoàn tụ gia đình. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của bà B có căn cứ để chấp nhận.
Xét yêu cầu về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung của bà Đinh Thị B:
Xét thấy, việc nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm cả cha và mẹ. Hiện tại, con chung là Đinh Tiến T, sinh ngày 27/12/2008 đang được cả bà B và ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, trẻ Tiến Triều đang tuổi vị thành niên, tâm sinh lý có nhiều thay đổi cần sự quan tâm, gần gũi chăm sóc của người mẹ trong việc phát triển tâm, sinh lý. Ngoài ra, khi được hỏi ý kiến, trẻ Tiến T cũng có nguyện vọng được chung sống cùng mẹ là bà B nếu bố mẹ ly hôn (Bản tự khai ngày 19/12/2025). Vì vậy, để đảm bảo cho trẻ Tiến T có một cuộc sống và sự phát triển toàn diện nhất, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao trẻ Tiến Triều cho bà Đinh Thị B nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình. Ông Đinh Thanh H vắng mặt trong các buổi hòa giải và tại phiên tòa xét xử nên không ghi nhận được ý kiến.
Ngoài ra, ông Đinh Thanh H không trực tiếp nuôi con chung là trẻ Tiến Triều thì phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà Đinh Thị B không yêu cầu ông Đinh Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Đinh Thị B về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Đinh Tiến T. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đinh Thị B không yêu cầu ông Đinh Thanh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Đinh Thị B xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Đinh Thị B xác nhận bà và ông Đinh Thanh H không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì do bà Đinh Thị B khởi kiện yêu cầu ly hôn nên bà Đinh Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 19; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị B được ly hôn ông Đinh Thanh H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 141, Quyển số Một/2007 do Ủy ban nhân dân phường A, tỉnh Gia Lai (xã N, huyện A, tỉnh Bình Định cũ) cấp ngày 28/12/2007 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Bà Đinh Thị B và ông Đinh Thanh H có 01 (một) con chung tên là Đinh Tiến T, sinh ngày 27/12/2008; giới tính: Nam.
Sau khi ly hôn, bà Đinh Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục Đinh Tiến T cho đến khi thành niên.
Ghi nhận bà Đinh Thị B tự nguyện không yêu cầu ông Đinh Thanh H cấp dưỡng nuôi con.
Ông Đinh Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung, không ai có quyền cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, các bên có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Đinh Thị B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022519 ngày 03 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H. Bà Đinh Thị B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết công khai.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 6a, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 10 - TP . HCM; - Thi hành án dân sự Tp. Hồ Chí Minh; - UBND xã An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai; - Đương sự; - Lưu. Vũ Thị Trang | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |