- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn T và Đoàn Văn H - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Y ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 517/2022/HS-PT Ngày 23 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Y
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Huân
Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Văn Thành
Ông Mai Văn Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Y.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Y tham gia phiên tòa: Ông Trương Đức Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 ngày 6 tháng 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Y xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 314/2022/LTPT-HS ngày 19 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo Đoàn Văn Hùng và Cao Văn T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2022/HSST ngày 02 và 08 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận X, thành phố Y.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Cao Văn T, sinh năm 1999; ĐKHKTT: Thôn Thái Bình, xã Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh T; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo Không; dân tộc: Mường; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Cao Văn T và bà Cao Thị T; gia đình có 02 chị em ruột, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 16/10/2020, tạm giam ngày 25/10/2020; bị Tòa án nhân dân quận X xử phạt về tội “Cướp tài sản” và “Bắt giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố Y.
2. Đoàn Văn H, sinh năm 1991; ĐKHKTT: Thôn Qũy Trại, xã Trực H, huyện Trực Ninh, tỉnh Z; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo Không; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Đoàn Văn B và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Đinh Thị Minh H; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 16/10/2020, tạm giam ngày 25/10/2020; bị Tòa án nhân dân quận X xử phạt về tội “Cướp tài sản” và “Bắt giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố Y
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3/2020, Hoàng Thị L (SN 1981; địa chỉ: đội 4, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Y) đặt mua của anh Nguyễn Đức D 20 thùng khẩu trang với số tiền 266.000.000 đồng. L đã chuyển trả anh D số tiền này. Sau khi nhận khẩu trang, do không bán được nên L điện cho anh D để trả lại 19 thùng, anh D không đồng ý và chỉ nhận bán hộ L 19 thùng khẩu trang, sau khi bán xong sẽ gửi lại tiền L. Sau đó, anh D đã bán được 03 thùng khẩu trang và đã trả L 19.500.000 đồng.
Từ tháng 7/2020 thì L không liên lạc được với anh D, L nói chuyện bạn là Nông Thị Tiêm (SN 1080; địa chỉ: bản Viết, xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng). L đưa cho Tiêm giấy nhận nợ và số điện thoại của anh D.
Khoảng 11h30’ ngày 13/10/2020, Tiêm gọi điện cho Lê Văn C (Tiêm xưng tên là L) để nhờ C đòi nợ anh D số tiền 254.000.000 đồng là tiền mua bán khẩu trang. C và Tiêm thỏa thuận nếu C đòi được số tiền này thì Tiêm sẽ trả công C 30% tổng số tiền đòi được. Tiêm hẹn gặp C ở khu vực Ngoại giao đoàn, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, Y.
Từ tháng 8/2020, Lê Văn C đã tự thành lập Website “thuhoinovip.com” và làm việc tại phòng 1716, Chung cư HH4B Linh Đàm, phường Q, quận X, Y; thường xuyên đăng bài nhận đòi nợ thuê. C thuê Trương Công B, Cao Văn T, Nguyễn Văn Tg làm nhân viên, nuôi ăn, ở tại nhà. C quy định khi đòi nợ thành công C hưởng 50% số tiền mà người thuê đòi nợ trả, còn lại 50% chia đều cho những người tham gia đòi nợ thuê cùng C.
Khoảng 10h ngày 14/10/2020, C gọi cho B, T, Tg và Đoàn Văn H để rủ đi ký hợp đồng đòi nợ thuê với Tiêm tại khu vực Ngoại giao đoàn. Cả 5 đối tượng đi trên xe ô tô Mazda màu trắng không rõ biển kiểm soát (xe do C thuê) đi đến quán cà phê khu vực Ngoại giao đoàn. C vào trong quán cà phê gặp Tiêm, bốn đối tượng còn lại ngồi trên xe ô tô chờ. Tiêm đưa cho C 02 bản hợp đồng thu hồi số tiền 254.000.000 đồng do Tiêm soạn sẵn để C ký. Sau khi ký xong thì mỗi người giữ một bản. Tiêm đưa cho C giấy hẹn trả tiền do D viết, số điện thoại, ảnh giấy chứng minh nhân dân của anh D và dặn C gọi anh D bảo thuê chở hàng là sẽ liên hệ được. C yêu cầu Tiêm đưa trước 5.000.000 đồng đặt cọc. Tiêm gọi điện cho L, L đồng ý và đã chuyển khoản 5.000.000 đồng trực tuyến vào tài khoản của C. Lúc này C vẫn nghĩ Tiêm là L.
Khoảng 11h30’ ngày 14/10/2020, C gọi điện cho H để hẹn anh D đến địa chỉ 352 đường Giải Phóng, phường Giáp Bát, quận X, Y và giả vờ thuê xe chuyển nhà về Phú Thọ. Khoảng 15h cùng ngày, khi anh D điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Kia 250, BKS 99C-187.76 đến trước cửa nhà số 352 đường Giải Phóng gặp C và bốn đối tượng nói trên. C hỏi anh D có nợ tiền L không, anh D trả lời không nợ mà đây là số tiền làm ăn giữa anh D và L. C mở hình ảnh giấy vay nợ trong điện thoại do L gửi trước đó cho anh D xem thì anh D không nhận đây là chữ ký của mình. H và T đã dùng tay đấm vào mặt anh D và bảo anh D ngồi xuống để nói chuyện. C cùng đồng bọn yêu cầu anh D lên xe ô tô Mazda của các đối tượng, gần đến nơi thì anh D bỏ chạy. Tg, T, B,C đuổi theo. Tg giữ anh D rồi Tg, T, B, C dùng tay chân đánh khiến anh D gục xuống. Lúc này xe ô tô tải của anh D vấn đề trước cửa nhà 353 đường Giải Phóng. Sau đó T, B đưa anh D lên xe ô tô Mazda của các đối tượng trong có H đang ngồi sẵn ở ghế lái. C ngồi ghế phụ, anh D ngồi giữa ghế sau cùng B, T, Tg. H điều khiển xe ô tô này đi đến trước cổng Ngoại giao đoàn, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, Y. C gọi điện cho Tiêm. Tiêm điều khiển xe ô tô Gentra Deawo màu trắng BKS 29A -602.60 chở L đi đến cổng Ngoại giao đoàn. Tg, B, T xuống xe, Tiểm và L lên xe ngồi sau ghế lái cạnh anh D. L hỏi anh D số tiền bán khẩu trang, anh D bảo do chưa bán được khẩu trang nên chưa có tiền trả, nếu cần thì L xuống kho chở khẩu trang về. Do không thống nhất được với anh D nên Tiêm và L xuống xe. C bảo anh D về việc anh D và L mỗi người chịu nửa số tiền, anh D bảo không có tiền, nhưng do sợ bị đánh và bị đe dọa nên anh D đồng ý nhận nợ L 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. C xuống xe và nói cho L biết việc anh D đồng ý nhận nợ L 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Sau đó L và Tiêm bỏ đi. C cùng đồng bọn chở anh D quay lại trước cửa số nhà 352 đường Giải Phóng. Trên đường đi, C, H, B, T, Tg tiếp tục đánh và đe dọa anh D phải cầm cố xe ô tô tải của anh D để lấy tiền trả nợ cho L. Khi đến trước cửa số nhà 352 đường Giải Phóng thì đường xuống xe và lên xe ô tô tải của anh D rồi điều khiển xe về trước cửa Chung cư CT16 khu đô thị Định Công, phường Định Công, quận X, Y. Còn H lái xe chở anh D, Tg, B, T cùng đi đến địa điểm này. Tg vào quán cà phê tại kiot 11 CT16 Định Công mượn giấy bút của chị Nguyễn Thị Thảo (SN 2003, trú tại kiot này) và mang lên xe ô tô Mazda. H bảo anh D “mày nói viết giấy để lại giấy tờ làm tin xong mày không để lại thì mày đùa à?”, anh D không trả lời thì H dùng tay đấm vào mặt anh D, T và B dùng tay tát vào mặt anh D. Anh D nói “cho em xin”. H xuống xe khoảng 10 phút thì quay lại nói với anh D cho mày . viết giấy bán xe”, anh D trả lời “cho em xin”. Do bị đánh và bị đe dọa nên anh D đồng ý viết giấy bán xe ô tô tải cho L, C đọc cho anh D viết với nội dung: anh D nợ L 100,000,000 đồng, hẹn đến ngày 31/12/2020 sẽ trả tiền, anh D để lại chứng minh thư nhân dân, bằng lái xe, đăng ký xe ô tô tải nhãn hiệu Kia 250, BKS 99C187.76; nếu không trả thì L có quyền giữ lại chiếc xe ô tô tải của anh D. Sau khi viết giấy nhận nợ xong thì các đối tượng cho anh D về. Anh D đã lái xe ô tô tải của mình đến Bệnh viện Thanh Nhàn khám thương tích và đến Công an phường Giáp Bát, quận X trình báo. Cơ quan Công an đã tạm giữ của Lê Văn C: 01 giây hẹn trả nợ, người viết giấy là Nguyễn Đức D; 01 giấy biên nhận thế chấp ngân hàng số 99C- 18776/BNH/2 của Ngân hàng TMCP Tiên Phong – TP Bank Chi nhánh Bắc Ninh; 01 giấy chứng nhận kiểm định ô tô 2355957; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm ô tô xe máy tự nguyện số 200028157; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 200151796; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức D; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Đức D; 01 điện thoại di động Iphone màu đỏ, số imei 355836085936555. Tạm giữ của anh Nguyễn Đức D: 01 giấy biên nhận thế chấp ngân hàng số 99C-18776/BNH/2 của Ngân hàng TMCP Tiên Phong - TP Bank Chi nhánh Bắc Ninh (bản phô tô)
Tại Cơ quan Điều tra, Lê Văn C, Đoàn Văn H, Trương Công B, Cao Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình và khai đối tượng Nguyễn Văn Tg cùng tham gia cướp tài sản của anh D, sau đó Tg bỏ trốn. Ngày 10/02/2021, Cơ quan Điều tra
- Công an quận X đã bắt được Tg theo lệnh truy nã. Cơ quan Điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của các đối tượng trên nhưng không thu giữ được gì.
Anh Nguyễn Đức D đã được đại diện gia đình của Lê Văn C, Đoàn Văn H, Trương Công B, Cao Văn T bồi thường 100.000.000 (một trăm triệu) đồng là chi phí khám chữa bệnh, thuốc men và giai đoạn điều trị về sau. Anh D không có đề nghị gì và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho C, H, T, B.
Cơ quan Điều tra - Công an quận X đã trao trả anh D: 01 giấy biên nhận thế chấp ngân hàng số 99C-18776/BNH/2 của Ngân hàng TMCP Tiên Phong - TP Bank Chi nhánh Bắc Ninh; 01 giấy chứng nhận kiểm định ô tô 2355957; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm ô tô xe máy tự nguyện số 200028157; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 200151796; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức D; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Đức D
Đối với Hoàng Thị L là người nhờ Tiêm tìm người đòi tiền hộ của anh D, L không trực tiếp thuê C; việc C cùng đồng bọn đánh, bắt ép anh D viết giấy vay nợ thì L không biết. Hiện L vắng mặt tại nơi cư trú.
Đối với Nông Thị Tiêm, sau khi sự việc xảy ra, Tiêm vắng mặt tại nơi cư trú, chưa làm việc được với Tiêm nên chưa có căn cứ xác định Tiêm, L có liên quan đến việc C cùng đồng bọn đánh, bắt ép anh D viết giấy vay nợ hay không. Cơ quan Điều tra đã tách tài liệu liên quan đến Nông Thị Tiêm và Hoàng Thị L, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 189/CT-VKS-HM ngày 31/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận X truy tố Lê Văn C, Đoàn Văn H, Trương Công B, Cao Văn T, Nguyễn Văn Tg về tội “Cướp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 168 và tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 - BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án số 40/2022/HSST ngày 02 và 08/3/2022 của Tòa án nhân dân X, thành phố Y đã quyết định:
Tuyên bố: Đoàn Văn H, Cao Văn T phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”
Áp dụng điểm đ, Khoản 2 Điều 168; Khoản 1 Điều 157; các điểm b, s Khoản, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 – BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt:
- Đoàn Văn H 08 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản; 08 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt củ hai tội là 09 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2020.
- Cao Văn T 08 năm 06 tháng tù về Cướp tài sản; 08 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt củ hai tội là 09 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2020.
Bản án còn quyết định hình phạt với các bị cáo khác.
Không đồng ý với Bản án sơ thẩm, Đoàn Văn H và Cao Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Đoàn Văn H và Cao Văn T: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Y có quan điểm giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của hai bị cáo trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo trình tự phúc thẩm.
Các bị cáo có hành vi bắt giữ anh D và dùng chân tay đánh, bắt ép anh D viết giấy nợ số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Hành vi của các bị cáo Đoàn Văn H, Cao Văn T đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội Bắt, giữ người trái pháp luật và Cướp tài sản là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt H 08 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, 08 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật, tổng hợp hình phạt của hai tội danh là 09 năm 02 tháng tù; xử phạt T 08 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, 08 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật, tổng hợp hình phạt của hai tội danh là 09 năm 02 tháng tù là phù hợp.
Tại phiên tòa không có tình tiết mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Giữ nguyễn Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn H, Cao Văn T trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của Đoàn Văn H, Cao Văn T, Lê Văn C, Nguyễn Văn Tg, Trương Công B, lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ có đủ căn cứ kết luận:
- Trong khoảng thời gian từ 15 giờ 30 phút đến 20 giờ 20 phút ngày 14/10/2020, Lê Văn C, Đoàn Văn H, Trương Công B, Cao Văn T, Nguyễn Văn Tg đã hẹn anh Nguyễn Đức D đến trước cửa số nhà 352 đường Giải Phóng, phường Giáp Bát, quận X, Y. Tại đây các bị cáo đã đánh anh D bằng tay, chân rồi đưa anh D lên xe ô tô do C thuê và di chuyển đến khu vực Ngoại giao đoàn, phường Xuân Tảo, Bắc Từ Liêm, Y gặp Hoàng Thị L và Nông Thị T để xác nhận nợ. Sau đó các bị cáo tiếp tục đánh, giữ anh D trên xe ô tô do C thuê và đi về trước cửa Tòa nhà chung cư CT16 Khu đô thị Định Công, X, Y. Tại đây các bị cáo dùng tay, chân đánh đe dọa, bắt ép anh D biết giấy ghi nợ Hoàng Thị L có nội dung: Anh D nợ L 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, đến ngày 31/12/2020 nếu anh D không trả được số tiền này thì L có quyền thu giữ tài sản của anh D là chiếc xe ô tô tài Kia BKS 99C-187.XX mang tên anh D. Hành vi của Đoàn Văn H, Cao Văn T đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội Cướp tài sản và tội Bắt, giữ người trái pháp luật là có căn cứ.
- Xét kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn H, Cao Văn T, Hội đồng xét xử n hận thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội và xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của hai bị cáo để quyết định hình phạt đối với hai bị cáo 08 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản và 08 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật, tổng hợp hình phạt của hai tội là 09 năm 02 tháng tù là nghiêm khắc. Bởi lẽ, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ như khai nhận hành vi phạm tội, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, gia đình có công với Cách mạng, gia đình các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả trong vụ án, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên cần chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Các bị cáo không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của Đoàn Văn H, Cao Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HSST ngày 02 và 08/3/2022 của Tòa án nhân dân quận X, thành phố Y. Cụ thể:
Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 168; Khoản 1 Điều 157; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt:
- Đoàn Văn H 07 năm 08 tháng tù về tội Cướp tài sản; 08 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt buộc Đoàn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2020.
- Cao Văn T 07 năm 08 tháng tù về tội Cướp tài sản; 08 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt buộc Cao Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2020.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP Y; - TAND quận X; - VKSND quận X; - Công an quận X; - Chi cục THADS X; - Người kháng cáo; - Lưu HSVA, VP. bị cáo nên cần chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo. có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: tụng hình sự; thẩm số 40/2022/HSST ngày 02 và 08/3/2022 của Tòa án nhân dân quận X, thành phố Y. Cụ thể: Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt buộc Đoàn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2020. giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt buộc Cao Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2020. hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Y ––––––––––––––– BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Ngày 23 tháng 6 năm 2022. Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân thành phố Y. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Huân Các Thẩm phán: 19 tháng 4 năm 2022 đối với: Trực Ninh, tỉnh Z; huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HSST ngày 02 và 08/3/2022 của Tòa án nhân dân quận X, thành phố Y. (Biểu quyết 3/3 đồng ý) 2. Về tội danh và hình phạt: Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt buộc Đoàn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2020. giữ người trái pháp luật. Tổng hợp hình phạt buộc Cao Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2020. (Biểu quyết 3/3 đồng ý) kháng nghị: Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. (Biểu quyết 3/3 đồng ý) 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. (Biểu quyết 3/3 đồng ý) lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Nghị án kết thúc ngày 23 tháng 6 năm 2022. cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Huân - Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị [3] Về án phí: Các bị cáo không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm. Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố Chấp nhận kháng cáo của Đoàn Văn H, Cao Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 168; Khoản 1 Điều 157; điểm b, s Khoản 1, - Đoàn Văn H 07 năm 08 tháng tù về tội Cướp tài sản; 08 tháng tù về tội Bắt, - Cao Văn T 07 năm 08 tháng tù về tội Cướp tài sản; 08 tháng tù về tội Bắt, Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc –––––––––––––––––––––––––––––– Ông Hoàng Văn Thành Ông Mai Văn Quang T hành nghị án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 314/2022/LTPT-HS ngày 1. Đoàn Văn H, sinh năm 1991; ĐKHKTT: Thôn Qũy Trại, xã Trực H, huyện 2. Cao Văn T, sinh năm 1999; ĐKHKTT: Thôn Thái Bình, xã Cẩm Tú, Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH 1. Về kháng cáo: Chấp nhận kháng cáo của Đoàn Văn H, Cao Văn T. Sửa Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 168; Khoản 1 Điều 157; điểm b, s Khoản 1, - Đoàn Văn H 07 năm 08 tháng tù về tội Cướp tài sản; 08 tháng tù về tội Bắt, - Cao Văn T 07 năm 08 tháng tù về tội Cướp tài sản; 08 tháng tù về tội Bắt, 3. Về các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, 4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 5. Về hiệu lực pháp luật của bản án phúc thẩm: Bản án phúc thẩm có hiệu Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |