vanban.org

Bản án 517/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. bị cáo Th phải chịu thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th cho Ủy ban nhân dân Phường 3, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Th có …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 517/2019/HS-ST.
Ngày 29/11/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Bích Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Thực.

Ông Hà Đức Kiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Danh Đời - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 25 và ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 572/2019/HSST ngày 14/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5492/2019/QĐXXST-HS ngày 01/11/2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ Phương Th; sinh ngày 13/6/1993; hộ khẩu thường trú: 85/27 đường Phạm Văn Hai, Phường 3, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện tại: 1007 đường Âu Cơ, phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh Tuấn, (sinh năm 1972) và bà Vũ Thị Hương Tuyết (sinh năm 1972); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Từ nhỏ sinh sống cùng gia đình tại địa chỉ 85/27 đường Phạm Văn Hai, Phường 3, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ tháng 7/2018 đến tháng 8/2018 ở tại địa chỉ 328 đường Võ Văn Kiệt, phường Cô Giang, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến ngày thực hiện hành vi phạm tội và bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 16/7/2019 (có mặt).

- Bị hại: Bà Jo Hyelim, Quốc tịch Hàn Quốc, (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Vũ Phương Th và chị Jo Hyelim (Quốc tịch Hàn Quốc) là bạn bè, quen biết nhau trong thời gian thuê phòng tại căn hộ M0702 chung cư 328 Võ Văn Kiệt, phường Cô Giang, Quận 1 do anh Nguyễn Quang Trung làm chủ. Thanh hợp đồng thuê 1 phòng thuộc căn hộ M0702 và bắt đầu đến ở từ ngày 01/7/2018 còn chị Jo Hyelim thuê một phòng thuộc căn hộ M0702 từ ngày 08/7/2018. Ngày 01/8/2018, chị Jo Hyelim trả phòng, qua ở chung với Thanh. Do ở chung và thường hay đi chơi chung, nên Thanh biết mật mã thẻ MasterCard của chị Jo Hyelim là "0204" nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong thẻ. Trong quá trình ở chung căn hộ và sinh hoạt chung, Thanh lén lấy thẻ MasterCard của chị Jo Hyelim tại phòng khách để mua hàng, rút tiền nhiều lần tại các cây ATM của Ngân Hàng ACB cụ thể như sau: + Vào lúc 12 giờ 20 phút ngày 02/8/2018, Thanh rút 24.000.000 đồng tại cây ATM ngân hàng ACB Bến Chương Dương, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; + Lúc 14 giờ 20 phút ngày 02/8/2018, Thanh rút 50.000.000 đồng và mua 1 lượng vàng SJC tại tiệm vàng Kim Hiếu Thịnh số 178-180 Lê Thánh Tôn, phường Bến Thành, Quận 1. Hóa đơn rút tiền và mua vàng tại đây, Thanh sử dụng tên giả là Hồng Thanh Thúy; + Lúc 17 giờ 11 phút ngày 02/8/2018, Thanh rút 3.000.000 đồng tại cây ATM ngân hàng ACB (Thanh không nhớ địa chỉ); + Lúc 18 giờ 54 phút ngày 04/8/2018, Thanh rút 7.000.000 đồng tại cây ATM ngân hàng ACB (Thanh không nhớ địa chỉ); Lúc 19 giờ 52 phút ngày 04/8/2018, Thanh rút 30.000.000 đồng và mua 2 lượng vàng SJC tại tiệm vàng Bảo Tín số 863-865-867 Cách Mạng Tháng 8, Phường 7, quận Tân Bình, tại đây Thanh sử dụng tên giả là Hoàng Thu Thủy; + Lúc 18 giờ 22 phút ngày 05/8/2018, Thanh rút 80.000.000 đồng và mua 02 lượng vàng SJC tại tiệm vàng Thanh Tân số 178-180 Lê Thánh Tôn, phường Bến Thành, Quận 1. Hóa đơn rút tiền và mua vàng tại đây, Thanh sử dụng tên giả là Hồng Thanh Thúy. Tổng cộng số tiền Thanh thực hiện các giao dịch bằng thẻ Mastercard của chị Jo Hyelim là: 298.270.000 đồng (trong đó dùng thẻ thanh toán mua 03 lượng vàng SJC, tương đương 112.370.000 đồng; rút tiền mặt tại 02 tiệm vàng 162.900.000 đồng, rút tiền mặt tại ATM: 34.000.000 đồng; trong đó có tiền phí mua vàng và rút tiền mặt là 11.900.000 đồng).

Sau đó, Thanh đã gửi cho cha ruột ông Huỳnh Anh Tuấn 105.000.000 đồng và 03 lượng vàng SJC. Khoảng 19 giờ ngày 05/08/2018, Thanh đã ném bỏ chiếc thẻ ATM của Jo Hyelim vào thùng rác trên đường Võ Văn Tần, Quận 3 vì sợ bị phát hiện (Cơ quan điều tra không thu hồi lại được để tra cho bị hại).

Sáng ngày 06/8/2018, chị Jo Hyelim kiểm tra tư trang cá nhân, phát hiện mất thẻ MasterCard, nên đã kiểm tra thông tin giao dịch tài khoản thẻ, thể hiện có giao dịch bất hợp pháp nhiều lần, bị mất tổng số tiền 15.432.000 Won (tương đương 319.509.316 đồng Việt Nam) trong tài khoản thẻ MasterCard và biết Thanh là người chiếm đoạt tiền trong thẻ. Chị Jo Hyelim yêu cầu Thanh trả lại tiền, Thanh từ chối không trả do đó chị Jo Hyelim gọi điện thoại cho chủ nhà anh Nguyễn Quang Dũng nhờ giúp đỡ.

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 06/8/2018, anh Dũng tới căn hộ gặp Thanh và chị Jo Hyelim, anh Dũng có yêu cầu Thanh trả lại tiền nhưng Thanh từ chối do đó anh Dũng đã điện thoại báo Công an phường Cô Giang, Quận 1. Tại Công an phường Cô Giang, Thanh khai nhận đã lấy tiền trong thẻ của chị Jo Hyelim gửi cho cha là ông Nguyễn Anh Tuấn, nguyện vọng của Thanh cùng gia đình muốn khắc phục giao nộp 209.500.000 đồng và 03 lượng vàng SJC cho cơ quan Công an để trả lại cho chị Jo Hyelim.

Trong quá trình điều tra, tại Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Nguyễn Vũ Phương Th khai nhận nhặt được thẻ ở khu vực sinh hoạt chung đã cất giữ. Do biết thẻ là của chị Jo Hyelim nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong thẻ vì qua nhiều lần đi chơi chung biết được mật khẩu “0204”. Thanh đã thực hiện rút tiền, mua vàng, chiếm đoạt với tổng số tiền trên mang gửi cho cha mình. Sau khi chiếm đoạt do sợ chị Jo Hyelim phát hiện trên đường về Võ Văn Tần, Quận 3, Thanh đã ném thẻ ATM của chị Jo Hyelim vào thùng rác nào không nhớ. Cơ quan điều tra đã thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp căn nhà gia đình Thanh đang sinh sống và mời cha ruột Thanh lên để thu hồi tài sản trả lại cho chị Jo Hyelim.

Tuy nhiên, sau khi Cơ quan điều tra thu hồi tài sản mà Thanh trộm cắp được trả lại cho chị Jo Hyelim, chị Jo Hyelim nhận tài sản xong về nước, Thanh đã thay đổi lời khai. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh cho rằng Thẻ tín dụng Mastercard của chị Jo Hyelim không phải do Thanh nhặt được, mà do là do chị Jo Hyelim gửi cho Thanh và cho Thanh mật mã, Thanh muốn sử dụng thẻ rút tiền thì rút nhưng phải xin chị Jo Hyelim, khi nào có tiền thì trả lại. Thanh thừa nhận tự ý rút tiền trong thẻ này của chị Jo Hyelim, không nói với chị Jo Hyelim. Lý do giấu chị Jo Hyelim để thực hiện rút tiền trong thẻ vì đưa tiền cho cha ruột là ông Nguyễn Anh Tuấn mượn trả nợ. Sau khi sử dụng thẻ thực hiện giao dịch rút tiền, Thanh để lại thẻ Mastercard tại hộc bàn trong phòng ngủ, chị Jo Hyelim không biết. Thanh không vứt bỏ thẻ như lời khai ban đầu tại Công an phường Cô Giang, Quận 1. Tuy nhiên, căn cứ lời khai bị hại, hành vi gian dối lấy tên người khác trong mỗi lần giao dịch và các chứng cứ khác đủ căn cứ xác định Nguyễn Vũ Phương Th đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Vật chứng và đồ vật thu giữ trong vụ án gồm: + 01 (một) xe gắn máy loại Nouvo XL màu bạc, biển số 59K1-840.74, số máy 5P11230967, số khung RLCN5P110AY230965. Qua giám định, xe có số khung, số máy: không thay đổi; xác minh chủ sở hữu là anh Nguyễn Trần Dũng (bạn trai cũ của Nguyễn Vũ Phương Th), Dũng tặng cho Thanh trong quá trình quen nhau, chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu và cũng không có ý định đòi lại xe. + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 352982093483256 (đã niêm phong); + 01 (một) thẻ ngân hàng Vietinbank mang tên Nguyễn Vũ Phương Th số 9704155243345184; + 01 (một) thẻ ngân hàng ACB mang tên Nguyễn Vũ Phương Th số 4214945610019549; + 01 (một) hộ chiếu (passport) mang tên Nguyễn Vũ Phương Th số B7897112; + 89.500.000 đồng (Tám mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).

- Tạm giữ của ông Nguyễn Anh Tuấn (cha của Nguyễn Vũ Phương Th): + 03 (ba) miếng kim loại màu vàng (03 lượng vàng SJC); + 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã trả cho Nguyễn Vũ Phương Th: + 01 (một) thẻ ngân hàng Vietinbank mang tên Nguyễn Vũ Phương Th số 9704155243345184;

+ 01 (một) thẻ ngân hàng ACB mang tên Nguyễn Vũ Phương Th số 4214945610019549;

+ 01 (một) hộ chiếu (passport) mang tên Nguyễn Vũ Phương Th số B7897112.

- Trả cho người bị hại - bà Jo Hyelim:

+ 03 (ba) miếng kim loại màu vàng (03 lượng vàng SJC);

+ 209.500.000 đồng (Hai trăm lẻ chín triệu năm trăm nghìn) đồng.

Tại Bản cáo trạng số 418/CT-VKS-P2 ngày 08/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm a Khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã công bố. Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra vụ án và xét hỏi tại phiên tòa thể hiện lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở pháp lý kết luận: Trong thời gian từ ngày 02/8/2018 đến ngày 05/8/2018, Nguyễn Vũ Phương Th đã lợi dụng quen biết và cùng ở chung phòng thuê với chị Jo Hyelim nên đã lén lút lấy thẻ Mastercard của chị Jo Hyelim và thực hiện hành vi giao dịch rút tiền trong thẻ nhằm chiếm đoạt tiền của chị Jo Hyelim, với tổng số tiền bị chiếm đoạt là 298.270.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nhằm đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. [3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Th đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả, toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt đã được trả lại cho người bị hại nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét khi quyết định hình phạt. Về nhân thân: Ủy ban nhân dân phường 3, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh có xác nhận bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Th có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Th là có khả năng tự cải tạo, không cần phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. [4] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy trong quá trình điều tra, người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Về xử lý vật chứng: Đối với các đồ vật, vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra bao gồm: + 01 (một) thẻ ngân hàng Vietinbank mang tên Nguyễn Vũ Phương Th số 9704155243345184; + 01 (một) thẻ ngân hàng ACB mang tên Nguyễn Vũ Phương Th số 4214945610019549;

+ 01 (một) hộ chiếu (passport) mang tên Nguyễn Vũ Phương Th số B7897112;

+ 89.500.000 đồng (Tám mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).

+ 03 (ba) miếng kim loại màu vàng (03 lượng vàng SJC);

+ 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng).

Các vật chứng, đồ vật nêu trên cơ quan điều tra đã thực hiện thủ tục trao trả theo đúng quy định.

Đối với vật chứng, đồ vật là:

+ 01 (một) xe gắn máy loại Nouvo XL màu bạc, biển số 59K1-840.74, số máy 5P11230967, số khung RLCN5P110AY230965;

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 352982093483256 (đã niêm phong).

Hội đồng xét xử xét thấy, các vật chứng nêu trên là tài sản của bị cáo, không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án và thi hành án nên cần trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điểm a Khoản 3 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. bị cáo Th phải chịu thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th cho Ủy ban nhân dân Phường 3, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Th có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Th. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th có thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Giao trả cho bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th: 01 (một) xe gắn máy loại Nouvo XL màu bạc, biển số 59K1-840.74, số máy 5P11230967, số khung RLCN5P110AY230965; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 352982093483256. Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 113/20 ngày 18/11/2019 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

- Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Buộc bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bị cáo Nguyễn Vũ Phương Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ