- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Thu H và đồng phạm - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên ố b cáo Lê Th Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; các b cáo Hà Th Kim V, Nguyễn Th Phư ng T, Nguyễn Công M phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 360 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 516/2022/HS-PT Ngày: 13/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán:
ông Lê Phước Thanh
ông Nguyễn Cường
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Lê Ra - Kiểm sát viên.
Vào ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 406/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2022 đối với các cáo Lê Th Thu H và đồng phạm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Do có kháng cáo của các cáo và kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đối với Bản án hình sự s thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 237/2022/QĐXXPT-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022.
- Các cáo:
1. Họ và tên: Lê Th Thu H, sinh năm 1975 tại tỉnh Quảng Ngãi; n i cư trú: tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Phó trưởng C quan tổ chức, Nội vụ thành phố Q (nguyên Cán ộ phòng Lao động, Thư ng inh & Xã hội thành phố Q); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê Đ và con à Trần Th L; có chồng tên là Trần Đình T và có 02 con, con lớn sinh năm 2007 và con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; b cáo b bắt tạm giam từ ngày 12/9/2019, có mặt tại phiên tòa;
2. Họ và tên: Hà Th Kim V, sinh năm 1984 tại tỉnh Quảng Ngãi; n i cư trú: tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: nguyên Cán ộ phòng Lao động, Thư ng inh & Xã hội thành phố Q; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Hà Ngọc T và con à Lê Th N; có chồng tên là Lâm X L và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009 và con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; cáo bắt tạm giam từ ngày 12/9/2019 cho đến ngày 09/3/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, b cáo có mặt tại phiên tòa;
3. Họ và tên: Phạm Viết K, sinh năm 1954 tại tỉnh Quảng Ngãi; n i cư trú: tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: nguyên Trưởng phòng Lao động, Thư ng inh & Xã hội thành phố Q; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Phạm B và con à Tạ Th D; có vợ tên là Nguyễn Th X và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1983 và con nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: không; cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi n i cư trú”, có mặt tại phiên tòa;
4. Họ và tên: Nguyễn Th Phư ng T, sinh năm 1964 tại tỉnh Quảng Ngãi; n i đăng ký HKTT: tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: tổ 8, phường Nghĩa Chánh, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: nguyên Kế toán trưởng Phòng Lao động, Thư ng inh & Xã hội thành phố Q; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Nguyễn Q K và con à Bùi Th N; có chồng tên là Tân Ngọc T và có 02 con, con lớn sinh năm 2001 và con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi n i cư trú”, có đ n xin xét xử vắng mặt;
5. Họ và tên: Lê Th H M, sinh năm 1974 tại tỉnh Quảng Ngãi; n i cư trú: tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Chuyên viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Q (nguyên Kế toán phòng Lao động, Thư ng inh & Xã hội thành phố Q); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê T T và con à Huỳnh Th L; có chồng tên là Lê V T và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000 và con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; b cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi n i cư trú”, có mặt tại phiên tòa;
6. Họ và tên: Nguyễn Công M, sinh năm 1964 tại tỉnh Quảng Ngãi; n i cư trú: thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Chuyên viên phòng Việc làm, An toàn lao động thuộc Sở Lao động, Thư ng inh & Xã hội tỉnh Quảng Ngãi (nguyên Phó Trưởng phòng Kế hoạch – Tài chính); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Nguyễn H và con à Phạm Th V; có vợ tên là Lê Th T và có 02 con, con lớn sinh năm 1991 và con nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: không; cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi n i cư trú”, có mặt tại phiên tòa;
- Luật sư ào chữa cho các cáo:
Bào chữa cho b cáo Lê Th Thu H: Luật sư Trần V N, V phòng Luật sư Q, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
Bào chữa cho các cáo Hà Th Kim V, Nguyễn Công M: Luật sư Phạm Lý H, V phòng luật sư P, thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng; đ a chỉ: thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
- B hại: Phòng Lao động Thư ng inh & Xã hội thành phố Q. Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm P, chức vụ - Trưởng phòng Lao động Thư ng inh & Xã hội thành phố Q; đ a chỉ: số nhà 116 Phan Đình Phùng, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: bà Phan Th Thanh H, sinh năm 1966; n i cư trú: thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Đoàn Th Bích D, sinh năm 1966; n i cư trú: thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt tại phiên tòa.
(trong vụ án còn có một số b cáo không kháng cáo, không kháng ngh nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án s thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án được tóm tắt như sau:
Phòng Tổ chức, Lao động, Thư ng inh và Xã hội th xã Q (năm 2005 là thành phố Q) là c quan tham mưu ch u sự chỉ đạo toàn diện và trực tiếp của Ủy ban nhân dân th xã Q và ch u sự chỉ đạo hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn của Sở Lao động, Thư ng inh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là Sở LĐTBXH), có chức năng giải quyết các chính sách thư ng inh, liệt sỹ trên đ a àn thành phố Q. Trong đó có việc tiếp nhận phiếu áo tăng, giảm và làm thủ tục chi trả tiền trợ cấp ưu đãi hằng tháng cho thư ng inh khối C quan Nhà nước từ n i khác chuyển đến đ a àn thành phố Q.
Tháng 6/2002, ông Phạm Viết K - Trưởng phòng phân công à Nguyễn Th Phư ng T phụ trách công tác kế toán, Lê Th H M làm công tác kế toán (thay à T nghỉ thai sản từ tháng 7/2003 đến tháng 12/2003), à Phan Th Thanh H làm thủ quỹ, kiêm chi trả trợ cấp ưu đãi cho đối tượng thư ng inh khối c quan, à Lê Th Thu H làm công tác theo dõi chính sách người có công có nhiệm vụ tiếp nhận phiếu áo quản lý, giấy áo tăng, giảm của đối tượng chính sách từ Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ngãi, cập nhật thông tin vào Sổ đăng ký tra cứu thư ng inh, ệnh inh để theo dõi; lập danh sách áo tăng, giảm đối tượng gửi qua bộ phận kế toán để làm thủ tục chi trả tiền trợ cấp ưu đãi hàng tháng cho đối tượng thư ng inh khối C quan trên đ a àn thành phố Q theo quy đ nh của Nhà nước.
Theo quy đ nh thủ tục di chuyển và tiếp nhận đối tượng thư ng inh được thực hiện như sau: N i đi kiểm tra đủ thủ tục, Sở LĐTBXH n i đi cấp giấy giới thiệu di chuyển và trả trợ cấp, kèm theo toàn ộ hồ s đang lưu giữ gửi n i đến và lập phiếu áo gửi về Bộ. N i đến: Sở LĐTBXH n i đư ng sự đến tiếp nhận ghi ký hiệu, số quản lý đ a phư ng và lưu giữ hồ s , đăng ký vào danh sách quản lý đối tượng và thực hiện các chế độ theo quy đ nh. Theo đó sau khi tiếp nhận đối tượng thư ng inh c quan từ n i khác chuyển đến th xã Q thì Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ngãi tiếp nhận ghi ký hiệu, số quản lý và lưu giữ hồ s , lập phiếu áo quản lý (giấy áo quản lý) gửi đến Phòng Lao động, Thư ng inh và Xã hội (Phòng LĐTBXH) th xã Q vào Sổ đăng ký tra cứu thư ng inh, ệnh binh; lập bảng kê đối tượng tăng hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; viết giấy giới thiệu gửi về xã, phường n i đối tượng thư ng inh cư trú để quản lý; cấp phát sổ lĩnh tiền hàng tháng và lập danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng để chi trả cho đối tượng thư ng inh.
Từ tháng 01/2003 đến tháng 12/2003, tuy không có hồ s , phiếu áo quản lý của Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ngãi gửi đến Phòng LĐTBXH th xã Q nhưng Lê Th Thu H đã kê khai vào Sổ đăng ký tra cứu thư ng inh, ệnh binh; lập bảng kê đối tượng tăng hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; ghi chèn, ghi xen kẽ vào danh sách chi trả tiền trợ cấp ưu đãi hàng tháng (do danh sách đã được đánh máy sẵn nên H phải ghi chèn, ghi xen kẽ) 31 thư ng inh không có thật và 02 thư ng inh đã được chuyển về Phòng LĐTBXH huyện S chi trả, sau đó H gửi cho kế toán Nguyễn Th Phư ng T và Lê Th H M để làm thủ tục chi trả trợ cấp ưu đãi cho 33 thư ng inh khống trên. Do thiếu trách nhiệm, không kiểm tra và tin tưởng Lê Th Thu H nên Nguyễn Th Phư ng T và Lê Th H M không kiểm tra phiếu áo quản lý của những trường hợp ghi chèn, ghi xen kẽ nên đã chấp nhận đưa vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng của Phòng LĐTBXH th xã Q, làm thủ tục, viết phiếu chi, thanh quyết toán cho 31 thư ng inh không có thật gồm: Huỳnh Đức T, Nguyễn Đức B, Nguyễn V N, Lê Quang T, Nguyễn V K, Bùi Th Thu V, Đào Thanh B, Lý Ngọc X, M Th Thu H, Đặng Chí Q, Nguyễn T C, Trần Th T, Nguyễn Quang H, Nguyễn Đức L, Nguyễn Th T N, Đỗ Thanh C, Đặng Th H, H Th Mỹ D, H Q V, Nguyễn V T, Nguyễn T C, Phạm M H, Nguyễn Th L, Nguyễn V T, Nguyễn Thiên V, Nguyễn Đức V, Huỳnh Đức V, Đỗ M K, Trần Duy T, Nguyễn Hồng T, Tr nh Thanh H và 02 thư ng inh có hồ s quản lý là M Thọ Truyền, Trư ng Ngọc M nhưng hai người này đã chuyển về Phòng LĐTBXH huyện S chi trả.
Kết quả xác minh tại Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ngãi và Cục người có công thuộc Bộ Lao động, Thư ng inh và Xã hội xác đ nh: trong tổng số 33 đối tượng thư ng inh do Phòng LĐTBXH th xã Q chi trả thì có 31 trường hợp không có hồ s thư ng inh (không có con người thật), 02 trường hợp (Trư ng Ngọc M và M Thọ Truyền) có hồ s quản lý nhưng đã được chuyển đến nhận tiền tại Phòng LĐTBXH huyện S từ tháng 01/2003. Phòng LĐTBXH thành phố Q đã tiến hành chi trả và đề ngh quyết toán cho 33 thư ng inh trên từ tháng 01/2003 đến tháng 12/2018 với số tiền là 8.447.317.600 đồng (Tám tỷ bốn trăm ốn bảy triệu a trăm mười bảy nghìn sáu trăm đồng), trong đó tiền trợ cấp ưu đãi hàng tháng là 8.039.197.600 đồng; tiền quà tết, lễ 27/7 là 298.230.000 đồng; tiền điều dưỡng các năm 2013, 2015, 2017 là 109.890.000đồng.
Toàn ộ số tiền 8.447.317.600đồng đã chi cho 33 thư ng inh trên theo đ nh kỳ hàng quý, 6 tháng và 01 năm đã được Phòng Kế hoạch – Tài chính của Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ngãi thẩm tra, xét duyệt cho quyết toán để làm căn cứ lập dự toán, cấp dự toán chi trả hàng năm từ tháng 01/2003 đến tháng 12/2018 như sau:
- Quý I, II năm 2003, Phòng Kế hoạch - Tài chính thuộc Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ngãi thành lập đoàn quyết toán gồm: Trần N, Trưởng phòng kiêm thẩm kế; Đoàn Th Bích D, thẩm kế và Lâm T Đ, thẩm kế thực hiện việc quyết toán chứng từ chi trả trợ cấp ưu đãi người có công, trong đó có quyết toán chứng từ chi trả trợ cấp cho thư ng inh khối C quan nhà nước tại Phòng LĐTBXH th xã Q. Với nhiệm vụ Trưởng phòng, Trần N phân công cho à Đoàn Th Bích D, Cán ộ thẩm kế thực hiện nhiệm vụ quyết toán chứng từ chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng thư ng inh khối C quan nhà nước tại Phòng LĐTBXH thành phố Q, phân công cho ông Lâm T Đ, cán ộ thẩm kế quyết toán chứng từ chi trả nguồn ngân sách đ a phư ng và chi trả cho học sinh, sinh viên, trợ cấp ưu đãi một lần. Khi kiểm tra chứng từ chi trả trợ cấp ưu đãi thư ng inh khối c quan Đoàn Th Bích D phát hiện trong danh sách có nhiều trường hợp ghi chèn, ghi xen kẽ tên của nhiều thư ng inh ằng út i vào giữa các số thứ tự thư ng inh đã được đánh máy, nhiều chứng từ không có chữ ký của kế toán, cán ộ chi trả là những chứng từ không hợp pháp, hợp lệ không đủ điều kiện quyết toán theo quy đ nh, nếu không chỉnh sửa phải xuất toán. Cuối buổi làm việc Đoàn Th Bích D áo cáo với Trần N về những trường hợp ghi chèn, ghi xen kẽ trên nhưng Trần N chỉ yêu cầu Nguyễn Th Phư ng T, kế toán Phòng LĐTBXH th xã Q áo cáo, thì được à T giải trình những trường hợp trên là thư ng inh về muộn khi danh sách đã được đánh máy nên phải ghi chèn, ghi xen kẽ để chi trả k p thời. Do tin tưởng Nguyễn Th Phư ng T nên Trần N không kiểm tra chứng từ, không kiểm tra phiếu áo quản lý của những trường hợp ghi chèn, ghi xen kẽ, không yêu cầu kiểm tra làm lại chứng từ đúng theo quy đ nh mà đồng ý ký iên ản thẩm tra xét duyệt quyết toán chứng từ chi trả của Phòng LĐTBXH th xã Q các quý I, II năm 2003, trong đó có tên 22 thư ng inh không có thật được Lê Th Thu H ghi chèn, ghi xen kẽ vào danh sách gồm: Huỳnh Đức T, Nguyễn Đức B, Nguyễn V N, Lê Quang T, Nguyễn V K, Bùi Th Thu V, Đào Thanh B, Lý Ngọc X, M Th Thu H, Đặng Chí Q, Nguyễn T C, Trần Th T, Nguyễn Đức L, Nguyễn Th T N, Đỗ Thanh C, H Th Mỹ D, Nguyễn Thiên V, Nguyễn Đức V, Huỳnh Đức V, Trần Duy T, M Thọ Truyền, Trư ng Ngọc M. Sau khi được Trần N đồng ý xét duyệt cho quyết toán, không loại trừ 22 thư ng inh trên ngay từ an đầu nên sau đó danh sách 22 thư ng inh không có thật này đã được đánh máy vi tính đưa vào danh sách thư ng binh khối c quan, đ nh kỳ hàng tháng Phòng LĐTBXH th xã Q (sau này là thành phố) làm thủ tục chi trả và Phòng Kế hoạch – Tài chính thẩm tra, xét duyệt quyết toán từ tháng 01/2003 đến tháng 12/2018 với số tiền 5.273.800.600đồng.
- Quý III, IV năm 2003, Phòng Kế hoạch - Tài chính thuộc Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ngãi thành lập đoàn quyết toán gồm: Nguyễn Công M, Phó Trưởng phòng kiêm thẩm kế; Đoàn Th Bích D, Võ Tiến Công thẩm kế thực hiện việc quyết toán chứng từ chi trả trợ cấp ưu đãi người có công trong đó có quyết toán chứng từ chi trả trợ cấp thư ng inh khối c quan nhà nước tại Phòng LĐTBXH th xã Q. Với nhiệm vụ Phó Trưởng phòng, Nguyễn Công M phân công à Đoàn Th Bích D, cán ộ thẩm kế thực hiện nhiệm vụ quyết toán chứng từ chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng thư ng inh khối C quan nhà nước tại Phòng LĐTBXH th xã Q. Phân công ông Võ Tiến Công, cán ộ thẩm kế quyết toán chứng từ chi trả nguồn ngân sách đ a phư ng và chi trả cho học sinh, sinh viên, trợ cấp ưu đãi một lần. Khi kiểm tra chứng từ chi trả trợ cấp ưu đãi thư ng inh khối c quan Đoàn Th Bích D cũng phát hiện trong danh sách có nhiều trường hợp ghi chèn, ghi xen kẽ tên của nhiều thư ng inh ằng út i vào giữa các số thứ tự thư ng inh đã được đánh máy, nhiều chứng từ không có chữ ký của kế toán, cán ộ chi trả, chủ tài khoản là những chứng từ không hợp pháp, hợp lệ không đủ điều kiện quyết toán theo quy đ nh phải xuất toán. Cuối buổi làm việc Đoàn Th Bích D áo cáo với Nguyễn Công M về những trường hợp ghi chèn, ghi xen kẽ trên nhưng do tin tưởng kế toán Nguyễn Th Phư ng T áo cáo về các trường hợp này là thư ng inh về muộn khi danh sách đã được đánh máy nên phải ghi chèn, ghi xen kẽ để chi trả k p thời và tin tưởng cấp dưới đã kiểm tra chứng từ nên Nguyễn Công M không kiểm tra chứng từ, không kiểm tra các trường hợp ghi chèn, ghi xen kẽ, không yêu cầu làm lại chứng từ đúng theo quy đ nh mà đồng ý ký iên ản thẩm tra xét duyệt quyết toán chứng từ chi trả của Phòng LĐTBXH th xã Q, trong đó có tên 11 thư ng inh không có thật được Lê Th Thu H ghi chèn, ghi xen kẽ vào danh sách gồm: Nguyễn Th L, Đỗ M K, Nguyễn T C, Phạm M H, Nguyễn Quang H, Nguyễn V T, Đặng Th H, H Q V, Nguyễn Hồng T, Nguyễn V T, Tr nh Thanh H. Sau khi được Nguyễn Công M đồng ý xét duyệt cho quyết toán, không loại trừ 11 thư ng inh trên ngay từ an đầu nên sau đó danh sách 11 thư ng inh không có thật này đã được đánh máy vi tính đưa vào danh sách thư ng inh khối c quan, đ nh kỳ hàng tháng Phòng LĐTBXH th xã Q (nay là thành phố) làm thủ tục chi trả và Phòng Kế hoạch –Tài chính thẩm tra, xét duyệt quyết toán từ tháng 07/2003 đến tháng 12/2018 với số tiền 3.173.517.000đồng.
Kết quả điều tra xác đ nh: Lê Th Thu H đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng của 33 thư ng inh trên trong thời gian từ tháng 01/2003 đến tháng 12/2018, như sau:
- Từ tháng 01/2003 đến tháng 9/2006, Phan Th Thanh H được phân công làm cán ộ chi trả. Nhiều đối tượng thư ng inh khối c quan mang sổ lĩnh tiền trợ cấp hàng tháng đến gặp à Nguyễn Th Phư ng T, phụ trách kế toán để à T kiểm tra ghi tên đối tượng, số tiền vào sổ và cho đối tượng ký vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng (nhiệm vụ cho ký vào sổ là của Phan Th Thanh H). Sau đó chuyển Sổ lĩnh tiền qua cho Phan Th Thanh H để tiến hành chi trả. Khi chi trả cho thư ng inh à H có ghi tên đối tượng, số tiền đã chi vào tờ giấy A4 để theo dõi, đối chiếu với danh sách do à Nguyễn Th Phư ng T giữ cho đối tượng ký. Khi đối chiếu trùng hợp với số tiền, số người đã chi thì à H hủy giấy A4 trên. Trong số chi trả có 33 thư ng inh nêu trên cũng được Phan Th Thanh H chi trả. Tổng số tiền Phan Th Thanh H đã chi trả cho 33 thư ng binh khống là 581.509.000 đồng.
- Từ tháng 10/2006 đến tháng 9/2007, Phạm Th M là lao động hợp đồng được Phòng LĐTBXH thành phố Q phân công làm nhiệm vụ chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng người có công. Lê Th Thu H đã gặp Phạm Th M nói rằng 33 thư ng binh trên là người nhà của H và đề ngh Phạm Th M cho nhận tiền giúp cho họ (thời điểm đó Phạm Th M không iết 33 thư ng inh là không có thật). H có hứa sẽ xin việc cho con của Phạm Th M vào làm việc trong c quan nhà nước. Vì tin tưởng Lê Th Thu H là cán ộ đang làm việc tại Phòng LĐTBXH thành phố Q và tin tưởng 33 thư ng inh trên là người thân quen của Lê Th Thu H nên M đồng ý. Hàng tháng Lê Th Thu H cầm sổ lĩnh tiền đến gặp à Phạm Th M và trực tiếp ký giả chữ ký của 33 thư ng inh không có thật vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng để nhận số tiền 283.593.000đồng.
- Từ tháng 10/2007 đến tháng 4/2008: Đầu tháng 10/2007 à Phạm Th M b bệnh nghỉ việc, Phòng LĐTBXH thành phố Q phân công à Võ Th Thắm (lao động hợp đồng) thực hiện chi trả tiền trợ cấp ưu đãi hàng tháng cho thư ng inh khối c quan. Trong khoảng thời gian này, Lê Th Thu H đến nhà gặp Phạm Th M nói “Cô ký dùm cháu chữ ký của đối tượng vào danh sách nhận tiền của 33 thư ng inh vì cháu còn đi làm nên ký không tiện” và Lê Th Thu H tiếp tục hứa với Phạm Th M sẽ xin việc cho con ruột và con dâu vào làm việc trong c quan nhà nước, đồng thời thường xuyên mang trái cây, đồ ăn cho à M và mỗi khi à Phạm Th M đi khám bệnh thì Lê Th Thu H cho tiền từ 200.000đồng đến 500.000đồng (Bà M không nhớ à H cho mình ao nhiêu tiền).
Vì tin à H sẽ xin việc cho con và không iết 33 thư ng inh trên là không có thật mà nghĩ là người nhà của Lê Th Thu H nên đ nh kỳ hàng tháng Phạm Th M mang sổ lĩnh tiền đến Phòng LĐTBXH thành phố Q gặp Võ Th Thắm để nhận tiền trợ cấp. Phạm Th M nói với Thắm “33 thương binh trên là người quen của M nên M nhận thay”. Do tin tưởng Phạm Th M và không iết những thư ng inh trên là không có thật nên Võ Th Thắm đồng ý cho Phạm Th M nhận thay. Số tiền Võ Th Thắm đã chi cho Phạm Th M từ tháng 10/2007 đến tháng 4/2008 là 195.357.600 đồng. Khi nhận tiền Phạm Th M đã ký giả chữ ký của 33 thư ng inh trên vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng của Phòng LĐTBXH thành phố Q. Nhận tiền xong Phạm Th M khai đã đưa lại số tiền trên cho Lê Th Thu H.
- Tháng 5/2008, Hà Th Kim V là lao động hợp đồng được Phòng LĐTBXH thành phố Q phân công thực hiện nhiệm vụ chi trả tiền trợ cấp cho thư ng inh. Phạm Th M đến gặp Hà Th Kim V để xin nhận tiền thay cho 33 thư ng inh trên, V hỏi tại sao lại nhận dùm như vậy thì Lê Th Thu H lúc đó là chuyên viên của Phòng Nội vụ, Lao động Thư ng inh xã hội thành phố Q đến gặp V nói rằng: “33 thương binh trên là người thân quen của chị em cứ chi cho chị M nhận dùm không sao đâu”. Do tin tưởng Lê Th Thu H là cán ộ, trước đây có làm công tác giải quyết chính sách người có công cách mạng và không iết 33 thư ng inh trên là không có thật nên Hà Th Kim V đã chi trả tiền cho 33 thư ng inh trên như sau:
+ Từ tháng 5/2008 đến tháng 12/2010 (trừ tháng 10, 11, 12/2009 do ông Đạo chi trả), đ nh kỳ chi trả tiền trợ cấp hàng tháng, Phạm Th M đến Phòng LĐTBXH thành phố Q gặp Hà Th Kim V, tại đây Hà Th Kim V chi tiền cho Phạm Th M; V đưa danh sách chi trả tiền trợ cấp ưu đãi hàng tháng cho Phạm Th M ký giả chữ ký của 33 thư ng inh vào v trí ký nhận trong danh sách để quyết toán. Số tiền Hà Th Kim V đã chi cho Phạm Th M từ tháng 10/2007 đến tháng 4/2008 là 1.002.539.000 đồng. Nhận tiền xong Phạm Th M đưa lại số tiền trên cho Lê Th Thu H.
+ Từ tháng 01/2011 đến tháng 12/2011, do Phạm Th M b bệnh phải nằm viện tại thành phố Hồ Chí M không nhận tiền giúp cho Lê Th Thu H được nên hàng tháng Lê Th Thu H trực tiếp mang 33 sổ lĩnh tiền ưu đãi đến Phòng LĐTBXH thành phố Q gặp Hà Th Kim V để nhận tiền. Số tiền Hà Th Kim V đã chi cho Lê Th Thu H từ tháng 01/2011 đến tháng 12/2011 là 514.884.000 đồng. Khi nhận tiền H đã ký giả chữ ký tên 33 thư ng inh trên vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng để quyết toán.
+ Từ tháng 01/2012 đến tháng 6/2018 (trừ tháng 03/2014 đến tháng 8/2014 do à Trần Th H Trang chi trả) Lê Th Thu H cùng Phạm Th M đến Phòng LĐTBXH thành phố Q gặp Hà Th Kim V nói rằng “Chị còn đương chức nên chị ký nhận tiền của thương binh cũng ngại, 33 thương binh này là người thân, người quen của chị, tiền của 33 thương binh này chị nhận còn người ký là bà Phạm Thị M”. Do tin tưởng à Lê Th Thu H và trước đó đã nhiều lần chi tiền 33 thư ng inh này cho à H nên Hà Th Kim V đồng ý. Hàng tháng Phạm Th M đến tại Phòng LĐTBXH thành phố Q ký hoặc Hà Th Kim V cầm danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng đến nhà à Phạm Th M tại 89 Phan Đình Phùng để à M ký giả chữ ký 33 thư ng inh không có thật vào danh sách, còn tiền thì V lập một danh sách thư ng inh gồm có: Số thứ tự, họ tên, số tiền hàng tháng của 33 thư ng inh trên để đưa cho Lê Th Thu H nhận với tổng số tiền là 4.728.661.000 đồng.
Như vậy, trong thời gian từ tháng 5/2008 đến tháng 6/2018 Hà Th Kim V đã chi cho Lê Th Thu H nhận tiền của 33 thư ng inh trên với số tiền 6.246.084.000 đồng (1.002.539.000 đồng + 514.884.000 đồng+ 4.728.661.000 đồng). Đồng thời, Hà Th Kim V còn chi cho Lê Th Thu H nhận tiền quà tết, lễ 27/7 số tiền 259.200.000 đồng và tiền điều dưỡng các năm 2013, 2015, 2017 với số tiền 109.890.000 đồng của 33 thư ng inh nêu trên. Tổng cộng Hà Th Kim V đã chi cho Lê Th Thu H nhận tiền của 33 thư ng inh trên với số tiền 6.615.174.000 đồng (6.246.084.000 đồng+ 259.200.000 đồng + 109.890.000 đồng).
- Từ tháng 10/2009 đến tháng 12/2009, do Hà Th Kim V nghỉ thai sản nên Phan V Đạo cán ộ được Phòng LĐTBXH thành phố Q phân công chi trả thay. Khi chi trả cho 33 thư ng inh trên thì không có người đến nhận nên Phan V Đạo đã liên lạc với Hà Th Kim V thì được V cho biết những đối tượng trên là chỗ quen biết với à Lê Th Thu H, Phạm Th M và hướng dẫn cho Phan V Đạo mang tiền và Danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng đến nhà à Phạm Th M tại đ a chỉ 89 Phan Đình Phùng, thành phố Q để chi cho Phạm Th M nhận thay. Số tiền Phan V Đạo đã chi cho Phạm Th M từ tháng 10/2009 đến tháng 12/2009 là 108.438.000 đồng. Khi nhận tiền M đã ký giả chữ ký tên 33 thư ng inh trên vào Danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng để quyết toán. Nhận tiền xong Phạm Th M đưa lại số tiền trên cho Lê Th Thu H.
- Từ tháng 03/2014 đến tháng 8/2014, do Hà Th Kim V nghỉ thai sản lần 2 nên Trần Th H Trang là lao động hợp đồng văn thư, thủ quỹ được Phòng LĐTBXH thành phố Q phân công kiêm nhiệm thêm việc chi trả tiền cho thư ng inh khối c quan. Trước khi nghỉ thai sản Hà Th Kim V có dẫn Trần Th H Trang đến nhà của Phạm Th M để hướng dẫn việc chi trả tiền của 33 thư ng inh trên, Trần Th H Trang có hỏi sao lại chi như vậy thì V nói “Phạm Thị M nguyên là cán bộ chi trả tiền chế độ thương binh của Phòng nên biết 33 đối tượng này để bà M nhận thay, từ trước đến nay em (V) đều vẫn chi trả cho Phạm Thị M”. Do tin tưởng Hà Th Kim V nói những người trên là người thân quen của Lê Th Thu H và không iết 33 thư ng inh trên là không có thật nên Trang đã chi tiền, h n nữa do cùng lúc làm nhiều việc nên Trần Th H Trang chi trả theo hướng dẫn của V. Đ nh kỳ hàng tháng Trần Th H Trang cầm Danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng đến nhà Phạm Th M tại đ a chỉ 89 Phan Đình Phùng, thành phố Q để Phạm Th M ký giả chữ ký của 33 thư ng inh trên vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng, sau đó Trang đã chi trả cho Phạm Th M số tiền là 405.384.000 đồng (trong đó tiền trợ cấp ưu đãi 385.584.000đồng và tiền lễ 27/7: 19.800.000đồng) để à M đưa lại số tiền trên cho Lê Th Thu H.
- Từ tháng 7/2018, thực hiện việc chuyển đối tượng thư ng inh khối c quan nhà nước về xã, phường chi trả, 33 thư ng inh trên cũng được chuyển về các phường chi trả và Lê Th Thu H đã nhận tiền của 33 thư ng inh trên tại các phường như sau:
+ Phường Trần Phú: Tháng 7/2018, Phòng LĐTBXH thành phố Q chuyển danh sách 21 thư ng inh khối c quan nhà nước về phường Trần Phú để chi trả, trong đó có 9 thư ng inh không có thật gồm: Nguyễn T C, Nguyễn Quang H, M Th Thu H, Tr nh Thanh H, Nguyễn T Phát, Nguyễn V T, Huỳnh Đức T, H Q V, Đỗ M K và Nguyễn Thiên V, đến tháng 11/2018 chuyển về thêm 01 thư ng inh không có thật là Huỳnh Đức V. Tháng 7, 8/2018, Hà Th Kim V đến gặp Nguyễn Th Mỹ Hạnh, cán ộ chi trả của Phường Trần Phú nói rằng những thư ng inh trên là người thân quen của Lê Th Thu H, Phó trưởng C quan Nội vụ thành phố Q và xin nhận dùm tiền cho à H. Do tin tưởng lời V nói và không iết những thư ng inh trên là không có thật nên Nguyễn Th Mỹ Hạnh đã đưa danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng cho V và ông Huy (người đi cùng V) ký vào mục người nhận (không có giấy ủy quyền), Hạnh đã chi cho V số tiền 47.082.000 đồng để V đưa lại cho Lê Th Thu H.
Đến tháng 9/2018, V thông áo đã đưa lại Sổ nhận tiền của những thư ng inh trên cho Lê Th Thu H để H đến gặp Nguyễn Th Mỹ Hạnh nhận tiền, các tháng 9, 10, 11, 12/2018. Lê Th Thu H có điện thoại cho Nguyễn Th Mỹ Hạnh xin nhận tiền của những thư ng inh trên thì Hạnh đồng ý và có yêu cầu Lê Th Thu H mang theo giấy ủy quyền có xác nhận của chính quyền đ a phư ng nhưng H hẹn lần sau sẽ làm giấy ủy quyền, sau đó H trực tiếp đến gặp Nguyễn Th Mỹ Hạnh ký nhận vào Danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng và nhận tiền của 10 thư ng inh không có thật với số tiền 96.304.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Th Mỹ Hạnh đã chi cho Lê Th Thu H nhận của 10 thư ng inh không có thật là 143.386.000 đồng (47.082.000 đồng + 96.304.000 đồng).
+ Phường Nguyễn Nghiêm: Tháng 7/2018, Phòng LĐTBXH thành phố Q có chuyển danh sách 10 thư ng inh khối c quan nhà nước về phường Nguyễn Nghiêm để chi trả, trong đó có 03 thư ng inh không có thật gồm: Nguyễn Đức L, Nguyễn T C và Nguyễn Th T N. Khi không liên lạc được với 03 đối tượng trên, Võ Th M Thân, cán ộ chi trả của phường Nguyễn Nghiêm đã đến gặp Hà Th Kim V để hỏi thông tin thì được à V cho biết sẽ điện thoại có người đến nhận nhưng sau đó Hà Th Kim V đến gặp Võ Th M Thân xin nhận thay cho 03 thư ng inh trên, vì tin tưởng à V là chỗ quen biết và có cầm theo 03 Sổ lĩnh tiền ưu đãi hàng tháng tên Nguyễn Đức L, Nguyễn T C, Nguyễn Th T N nên Võ M Thân đã cho V ký nhận vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng và nhận số tiền 7.405.000 đồng. Các tháng 8, 9, 10, 11 và 12/2018 V không đến nhận tiền nữa mà Lê Th Thu H, Phó trưởng Phòng Nội vụ thành phố Q đến gặp à Thân xin nhận tiền của 03 thư ng inh trên thì à Thân có hỏi quan hệ như thế nào và được à H cho biết có quan hệ à con. Võ Th M Thân xin số điện thoại của 03 đối tượng trên thì à H nói không lưu trong máy điện thoại này để lần sau sẽ cho. Vì tin tưởng à H là lãnh đạo của Phòng Nội vụ và không iết những người trên là không có thật nên Thân đã cho Lê Th Thu H ký nhận vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng và nhận số tiền 40.097.000 đồng. Tổng số tiền Võ Th M Thân đã chi cho Lê Th Thu H nhận tiền của 03 thư ng inh không có thật là 47.502.000 đồng (7.405.000 đồng + 40.097.000 đồng).
+ Phường Nghĩa Chánh: Tháng 7/2018, Phòng LĐTBXH thành phố Q chuyển danh sách 12 thư ng inh khối c quan nhà nước về phường Nghĩa Chánh để chi trả, trong đó có 02 thư ng inh không có thật gồm: Trần Duy T và Nguyễn Hồng T. Khi không xác đ nh được đ a chỉ và số điện thoại của 02 đối tượng trên Võ V Quảng, cán ộ chi trả của phường Nghĩa Chánh đã điện thoại cho Hà Th Kim V thì được à V cho biết sẽ nhận dùm cho 02 đối tượng trên. Do tin tưởng trước đây Hà Th Kim V đã chi tiền cho những người này và không iết 02 thư ng inh trên là không có thật nên Võ V Quảng đồng ý, Hà Th Kim V cầm sổ lĩnh tiền ưu đãi hàng tháng của 02 người trên đến ký nhận vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng và nhận số tiền 5.314.000 đồng. Đến tháng 8/2018, Quảng liên lạc với à V yêu cầu cầm giấy ủy quyền đến nhận tiền cho 02 thư ng inh trên thì được à V cho biết 02 thư ng inh là người thân quen của Lê Th Thu H hiện là Phó Phòng Nội vụ thành phố Q nên để à H đến nhận, V cho Võ V Quảng số điện thoại của à H, Quảng nhiều lần liên lạc nhưng à H không đến nhận tiền mà thời hạn quyết toán chứng từ đã đến nên Võ V Quảng đã photocopy chứng từ lưu giữ và ký khống chữ ký của 02 đối tượng trên vào danh sách gốc để gửi hồ s lên Phòng LĐTBXH thành phố Q tập hợp quyết toán. Đến tháng 12/2018 à Lê Th Thu H trực tiếp đến gặp ông Võ V Quảng xin nhận tiền các tháng 8, 9, 10, 11, 12 năm 2018 của 02 thư ng inh trên. Do chứng từ gốc các tháng 8, 9, 10/2018 đã gửi lên Phòng LĐTBXH thành phố Q để tập hợp quyết toán nên ông Quảng đã cho à H trực tiếp viết tên “H” vào danh sách photocopy do ông lưu giữ và H ký vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng ản gốc các tháng 11, 12/2018 để nhận số tiền 30.078.000 đồng. Tổng số tiền Võ V Quảng đã chi cho Lê Th Thu H nhận tiền của 02 thư ng inh không có thật là 35.392.000 đồng (5.314.000 đồng + 30.078.000 đồng).
+ Phường Lê Hồng Phong: Tháng 7/2018, Phòng LĐTBXH thành phố Q chuyển danh sách thư ng inh khối c quan nhà nước về phường chi trả, trong đó có 02 thư ng inh không có thật gồm: Nguyễn Th L và Lê Quang T. Sau khi không có người đến phường nhận tiền, ông Nguyễn V L mang danh sách cùng tiền của 02 thư ng inh trên đến Phòng LĐTBXH thành phố Q gặp Hà Th Kim V, V nói sẽ nhận thay cho 02 thư ng inh trên thì ông L đồng ý và đưa danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng cho à V ký và nhận số tiền 6.020.000 đồng. Sau đó ông Nguyễn V L nghỉ hưu và àn giao công việc chi trả lại cho ông Phùng Kim A. Đến tháng 8/2018, cũng không có người đến phường nhận tiền, ông Phùng Kim A mang danh sách cùng tiền của 02 thư ng inh trên đến Phòng LĐTBXH thành phố Q gặp Hà Th Kim V để hỏi và V nói sẽ nhận thay cho 02 thư ng inh trên, vì tin tưởng Hà Th Kim V là người trước đây đã chi tiền cho những thư ng inh này nên ông A đồng ý cho V ký nhận với số tiền 4.720.000 đồng.
Các tháng 9, 10, 11 và 12/2018, sau khi không có người đến nhận ông Phùng Kim A liên hệ với Hà Th Kim V thì được V cho biết 02 thư ng inh trên là người thân quen của Lê Th Thu H, Phó Trưởng Phòng Nội vụ thành phố Q và cho ông A số điện thoại của à H. Ông A đã gọi điện thoại cho à H yêu cầu mang giấy ủy quyền đến nhận tiền nhưng à H nói ận công việc để cuối năm sẽ nhận một lần. Do tin tưởng à H là lãnh đạo của C quan Nội vụ thành phố Q và không iết 02 thư ng binh trên là không có thật nên tháng 12/2018, ông Phùng Kim A trực tiếp gọi điện thoại cho à H yêu cầu đến nhận tiền nhưng à H nhờ ông mang dùm đến Thành ủy Quảng Ngãi để à H nhận. Lúc này danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng đã gửi lên Phòng LĐTBXH thành phố Q để quyết toán nên ông A chỉ mang tiền đến trụ sở Thành ủy Quảng Ngãi giao cho à H. Tại trụ sở Thành ủy Quảng Ngãi à H xuất trình 02 sổ lĩnh tiền của Nguyễn Th L và Lê Quang T để ông A ghi tên và số tiền nhận của 02 đối tượng trên và đưa à H nhận số tiền 20.844.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn V L và Phùng Kim A đã chi cho Lê Th Thu H nhận tiền của 02 thư ng inh trên là 31.582.000 đồng (6.020.000 đồng + 4.720.000 đồng + 20.844.000 đồng).
+ Phường Quảng Phú: Tháng 7/2018, Phòng LĐTBXH thành phố Q chuyển danh sách thư ng inh khối c quan nhà nước về phường chi trả, trong đó có 09 thư ng inh không có thật gồm: Đào Thanh B, Đỗ Thanh C, H Th Mỹ D, Nguyễn V K, Nguyễn V N, Đặng Chí Q, M Thọ Truyền, Phạm M H, Nguyễn Đức V. Sau khi kiểm tra không xác đ nh được đ a chỉ, số điện thoại của 09 thư ng inh trên nên Lê Hiệp, cán ộ chi trả phường Quảng Phú không tiến hành chi trả mà nộp tiền lại cho ngân sách nhà nước.
+ Phường Chánh Lộ: Tháng 7/2018, Phòng LĐTBXH thành phố Q chuyển danh sách thư ng inh khối c quan nhà nước về phường chi trả, trong đó có 07 thư ng inh không có thật gồm: Nguyễn Đức B, Bùi Th Thu V, Lý Ngọc X, Trần Th T, Đặng Th H, Nguyễn V T, Trư ng Ngọc M. Sau khi kiểm tra không xác đ nh được đ a chỉ, số điện thoại của 07 thư ng inh trên nên Lê Th Bích T, cán ộ chi trả phường Chánh Lộ không tiến hành chi trả mà nộp tiền lại cho ngân sách nhà nước.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự s thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã quyết đ nh:
1. Tuyên ố b cáo Lê Th Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; các b cáo Hà Th Kim V, Nguyễn Th Phư ng T, Nguyễn Công M phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
1.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt b cáo Lê Th Thu H 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/9/2019.
1.2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 360; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt b cáo Hà Th Kim V 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt b cáo đi chấp hành án và được trừ thời gian tạm giam từ ngày 12/9/2019 cho đến ngày 09/3/2020.
1.3. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 360; điểm b, n, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt b cáo Nguyễn Th Phư ng T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án s thẩm (ngày 22/8/2022). Giao b cáo Nguyễn Th Phư ng T cho Ủy an nhân dân phường Nghĩa Chánh, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
1.4. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 360; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt b cáo Nguyễn Công M 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 ( ốn) năm kể từ ngày tuyên án s thẩm (ngày 22/8/2022). Giao b cáo Nguyễn Công M cho Ủy an nhân dân phường Nghĩa Lộ, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi n i cư trú thì thực hiện theo quy đ nh tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.5. Về trách nhiệm của các cáo Phạm Viết K, Lê Th H M: căn cứ Điều 125; Điều 157; Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
1.5.1. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, đình chỉ một phần vụ án về phần trách nhiệm hình sự đối với Phạm Viết K, Lê Th H M.
1.5.2. Hủy bỏ toàn ộ các iện pháp ngăn chặn áp dụng đối với Phạm Viết K, Lê Th H M.
Ngoài ra bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 24, 26, 30, 31 tháng 8 năm 2022 các b cáo Lê Th Thu H, Nguyễn Công M, Hà Th Kim V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Th Thanh H kháng cáo bản án s thẩm.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi kháng ngh phúc thẩm bản án s thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các b cáo Lê Th Thu H, Nguyễn Công M, Hà Th Kim V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Th Thanh H trình ày giữ nguyên kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát iểu giữ nguyên kháng ngh phúc thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát iểu:
Về tố tụng: Kháng cáo và kháng ngh là trong thời hạn luật đ nh.
Về nội dung:
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Lê Th Thu H: Tòa án cấp s thẩm xét xử b cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy đ nh pháp luật. Mức án 18 năm tù là phù hợp, b cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết mới. Đề ngh HĐXX không chấp nhận kháng cáo của b cáo H.
Đối với kháng cáo của à Phan Th Thanh H đề ngh xem xét lại phần nhận đ nh của bản án: hành vi của Phan Th Thanh H đã cấu thành tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Tuy nhiên do thời hiệu xử lý hình sự đã hết nên C quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Quảng Ngãi không xem xét là có căn cứ, đúng quy đ nh. Bản án nhận đ nh có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với kháng cáo của b cáo Hà Th Kim V: hành vi thiếu trách nhiệm của b cáo V đã gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 6 tỷ 615 triệu đồng, thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ 7 đến 12 năm tù. B cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án s thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS, xử phạt b cáo 3 năm tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết mới. Đề ngh HĐXX không chấp nhận kháng cáo của b cáo, giữ nguyên ản án s thẩm.
Đối với kháng cáo kêu oan của b cáo Nguyễn Công M: tại Biên ản thẩm tra quý 3 và quý 4 năm 2003 có chữ ký của Nguyễn Công M; tại bản cung ngày 06/8/2020 đối với b cáo M; lời khai của Võ Tiến Công ngày 22/6/2020 đều thể hiện vai trò của b cáo M thiếu trách nhiệm gây ra thiệt hại về tài sản của Nhà nước. Bản án s thẩm xét xử b cáo Nguyễn Công M về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là có căn cứ, không oan sai. Đề ngh không chấp nhận kháng cáo của b cáo M.
Đối với kháng ngh : giữ nguyên nội dung kháng ngh . Đề ngh HĐXX chấp nhận quyết đ nh kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh Quảng Ngãi tính thời hiệu ch u trách nhiệm hình sự đối với các b cáo Phạm Viết K, Lê Th H M, Nguyễn Công M và Nguyễn Th Phư ng T từ tháng 12/2018. Xét xử các cáo Phạm Viết K, Lê Th H M, Nguyễn Công M về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Xét xử b cáo Lê Th Thu H về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
B cáo K trình ày: mong HĐXX xem xét, vụ án kéo dài là do việc thực hiện chi tài chính không đúng.
B cáo M trình ày: b cáo chỉ là chuyên viên được trưng dụng làm Kế toán trong thời gian b cáo T nghỉ thai sản. B cáo chỉ làm theo những người trước đó. B cáo không nắm được các đối tượng hưởng chính sách, b cáo tin tưởng những người đồng nghiệp nên để xảy ra việc chèn thêm các thư ng inh khống để hưởng trợ cấp. Hàng năm có Sở Lao động về kiểm tra cũng không phát hiện được. Việc quy kết b cáo đến năm 2018 là không phù hợp. Mong HĐXX xem xét.
Luật sư Nành trình ày ản luận cứ: Tại phiên tòa s thẩm b cáo Lê Th Thu H cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Việc b cáo H phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản" như cáo trạng truy tố hay phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" như án s thẩm tuyên xử, luật sư đề ngh HĐXX cấp phúc xem xét. Đề ngh xem xét số tiền b cáo H chiếm đoạt không phải là 8.447.317.600 đồng theo cấp s thẩm qui kết. Tại phiên tòa s thẩm và phúc thẩm b cáo Lê Th Thu H thành khẩn khai áo, trong quá trình công tác cáo được tặng thưởng nhiều Giấy khen, Bằng khen của Chủ t ch tỉnh, được công nhận Chiến sĩ thi đua c sở năm 2009; 2013 và cáo cũng đã tác động đến gia đình nộp một khoản tiền khắc phục hậu quả. Gia đình cáo có công với cách mạng, cha, mẹ b cáo được tặng thưởng Huân chư ng kháng chiến, cha b cáo được nhận huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Chồng b cáo Trần Đình T được tặng Bằng khen của Bộ Công an và Công an tỉnh, được Chủ t ch nước tặng Huy chư ng vì an ninh tổ quốc. Sau khi xử s thẩm gia đình b cáo nộp tiếp một khoản tiền tại Thi hành án, do đó đề ngh HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho b cáo. B cáo H thống nhất quan điểm của luật sư.
Luật sư Hùng trình ày ản luận cứ: Đối với b cáo M Tòa án cấp s thẩm cho rằng b cáo có trách nhiệm trong việc kiểm tra quý 3, quý 4 năm 2003, cáo là Trưởng đoàn có nghe ch D áo cáo trong danh sách có việc ghi chèn, nhưng cáo không kiểm tra. Trách nhiệm lập danh sách của ai? của b cáo H hay của b cáo T. Kiểm tra số liệu áo cáo quyết toán chứ không phải ông M là người có quyền phê duyệt áo cáo quyết toán. Việc quyết toán do phòng lao động gửi dự toán hàng năm lên cho sở để sở tổng hợp gửi đi. Báo cáo quyết toán mỗi quý gửi lên cho sở kiểm tra. Sở chỉ kiểm tra về số liệu, không kiểm tra hồ s . Ch D phát hiện ra việc ghi chèn, áo cho ông N, ông M không có ý kiến. Trong vụ án này người ch u trách nhiệm là Trưởng phòng Lao động Thư ng inh và Xã hội là người lập hồ s , lập danh sách, lập dự toán, lập áo cáo quyết toán. Sở chỉ là người kiểm tra số liệu, không kiểm tra hồ s . Trách nhiệm của b cáo M chỉ trong 02 quý. Hàng năm đều có kiểm tra nhưng cũng không ai phát hiện ra. Việc kết tội đối với b cáo M là chưa phù hợp. Từ năm 2013 cáo M không còn làm việc ở đó nữa, viện kiểm sát quy kết b cáo đến năm 2018 là không phù hợp. Đề ngh HĐXX xem xét. Đối với b cáo V: b cáo đi làm vào năm 2008 lúc đó chưa có quy đ nh nhận thay phải có ủy quyền. Đến năm 2013 mới yêu cầu có giấy ủy quyền. Tòa án cấp s thẩm buộc b cáo V ch u trách nhiệm từ năm 2008 đến năm 2018 là chưa phù hợp. Giấy ủy quyền trong nước chỉ có thời hạn 3 tháng, nước ngoài 06 tháng. Hết 3 tháng không làm giấy mới coi như hết ủy quyền. Trước năm 2013 chưa có quy đ nh về giấy ủy quyền, nên việc buộc b cáo phải ch u từ năm 2008 là không phù hợp. Đề ngh HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho b cáo V và cho b cáo được hưởng án treo. Các cáo M, V thống nhất với quan điểm của luật sư.
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tranh luận: thời điểm tính thời hiệu xử lý trách nhiệm hình sự là từ năm 2018. Do đó, giữ nguyên quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
Ngày 24, 26, 30, 31 tháng 8 năm 2022 các b cáo Lê Th Thu H, Nguyễn Công M, Hà Th Kim V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Th Thanh H kháng cáo bản án s thẩm. Ngày 31 tháng 8 năm 2022 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi kháng ngh phúc thẩm bản án s thẩm. Như vậy kháng cáo và kháng ngh nêu trên là trong thời hạn luật đ nh, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, b cáo Nguyễn Th Phư ng T có đ n xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt b cáo Nguyễn Th Phư ng T.
. Xét kháng cáo, kháng ngh :
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp s thẩm đã hai lần an hành quyết đ nh trả hồ s để điều tra bổ sung để làm rõ hành vi của Đoàn Th Bích D có hành vi thiếu trách nhiệm khi tham gia duyệt quyết toán tại Phòng LĐTB&XH thành phố Q hay không. Kết quả, C quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên Kết luận điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Do đó Tòa án cấp s thẩm căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy đ nh là có căn cứ.
. Đối với b cáo Lê Th Thu H:
Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2003 đến tháng 12 năm 2003 Lê Th Thu H được phân công theo dõi chính sách người có công. Có nhiệm vụ tiếp nhận phiếu áo quản lý, giấy áo tăng, áo giảm của đối tượng thư ng inh từ Sở Lao động Thư ng inh & Xã hội (Sở LĐTBXH) tỉnh Quảng Ngãi gửi đến. Cập nhật thông tin từ phiếu áo quản lý của Sở LĐTBXH, vào Sổ đăng ký tra cứu thư ng binh, bệnh inh để theo dõi. L danh sách áo tăng, giảm đối tượng gửi qua bộ phận kế toán để làm thủ tục chi trả tiền trợ cấp ưu đãi hàng tháng cho đối tượng thư ng binh khối c quan trên đ a àn thành phố Q. Mặc dù không có hồ s , phiếu áo quản lý của Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ngãi gửi đến Phòng LĐTBXH th xã Q, nhưng Lê Th Thu H đã ghi vào Sổ đăng ký tra cứu thư ng inh, ệnh binh; lập bảng kê đối tượng tăng hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; ghi chèn, ghi xen kẽ vào danh sách chi trả tiền trợ cấp ưu đãi hàng tháng 31 thư ng inh không có thật và 02 thư ng inh có thật nhưng đã chuyển về Phòng LĐTBXH huyện S chi trả. Số tiền từ ngân sách Nhà nước đã chi trả cho 33 đối tượng thư ng inh trên từ tháng 01/2003 đến tháng 12/2018 là 8.447.317.600 đồng (tám tỷ bốn trăm ốn bảy triệu a trăm mười bảy nghìn sáu trăm đồng).
Căn cứ các Kết luận giám đ nh số 672/KLGĐ-PC09 ngày 03/8/2021; Kết luận giám đ nh số 46/KLGĐ-PC09 ngày 09/01/2020 đều thể hiện: tất cả các chữ ký trong danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi năm 2003, 2005 tư ng ứng với tên các thư ng inh không có thật đều do b cáo H ký giả cùng với 116 danh sách cáo V lập đưa cho cáo H ký vào năm 2018 thể hiện b cáo H nhận đủ tiền chi trả của 33 thư ng inh và 21 danh sách chi trả trợ cấp hàng tháng từ tháng 3/2006 đến tháng 11/2007, từ tháng 01/2011 đến tháng 12/2011, từ tháng 9/2018 đến tháng 12/2018 và 01 danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi một lần tháng 9/2018 thì cáo H là người ký giả các chữ ký tư ng ứng với các thư ng inh không có thật.
Như vậy có căn cứ để xác đ nh: từ thàng 01/2003 đến 12/2018 Lê Th Thu H khi thực hiện công việc được phân công đã dùng các thủ đoạn gian dối, cố ý đưa ra các thông tin không đúng sự thật với bộ phận kế toán, người chi trả tiền để chiếm đoạt tài sản là 8.447.317.600 đồng. Do đó, Tòa án cấp s thẩm đã xét xử b cáo Lê Th Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng tội, phù hợp với khoản 2 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Đối với các b cáo Phạm Viết K, Lê Th H M:
. Cáo trạng số 1837/CT-VKS ngày 04/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Phạm Viết K, Lê Th H M về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm c khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự với nhận đ nh về hành vi:
Phạm Viết K là Trưởng phòng, chủ tài khoản của Phòng LĐTBXH th xã Q đã thực hiện không đúng trình tự, thủ tục, chức trách, nhiệm vụ được giao; thiếu trách nhiệm, uông lỏng trong công tác kiểm tra, quản lý dẫn đến hậu quả Lê Th Thu H lập khống danh sách 31 thư ng inh không có hồ s quản lý vào Sổ đăng ký quản lý, tra cứu thư ng inh và không làm thủ tục giảm 02 thư ng inh đã chuyển đến nhận trợ cấp tại Phòng LĐTBXH S; lập khống bảng kê đối tượng tăng hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; ghi chèn, ghi xen kẽ vào danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng để Phòng LĐTBXH th xã Q làm thủ tục chi trả cho 33 thư ng inh trên. Khi kế toán trình danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng để Phạm Viết K ký duyệt, có lúc Phạm Viết K xem nội dung danh sách thấy có nhiều trường hợp được ghi chèn, ghi xen kẽ, không hợp lệ nhưng không kiểm tra, rà soát hoặc có lúc duyệt luôn không xem nội dung danh sách nên đã không phát hiện, loại trừ ngay từ đầu đối với 33 thư ng inh khống được Lê Th Thu H ghi chèn vào danh sách dẫn đến việc Phòng LĐTBXH thành phố Q chi trả liên tục từ tháng 01/2003 đến tháng 12/2018 với tổng số tiền là 8.447.317.600 đồng.
Lê Th H M làm Kế toán thay cho Nguyễn Th Phư ng T từ tháng 7/2003 đến tháng 12/2003. Quá trình làm kế toán Lê Th H M thiếu trách nhiệm không kiểm tra đối chiếu, tin tưởng Lê Th Thu H, nên Lê Th H M đã tham mưu lãnh đạo Phòng LĐTBXH thành phố Q ký duyệt danh sách chi trả tiền trợ cấp cho 11 thư ng inh không có thật, cấp phát 11 sổ lĩnh tiền ưu đãi hàng tháng làm c sở để cán ộ chi trả tiền trợ cấp đối với 11 thư ng inh khống từ tháng 07/2003 đến tháng 12/2018 với số tiền 3.173.517.000 đồng.
Phạm Viết K chỉ làm Trưởng phòng LĐTBXH th xã Q từ 6/2002 đến 10/2005 thì chuyển công tác đến Phòng Tư pháp th xã Q và Lê Th H M chỉ làm Kế toán tại Phòng LĐTBXH th xã Q từ tháng 7/2003 đến tháng 12/2003 thì chuyển công tác làm Kế toán tại các đ n v khác thuộc Ủy an nhân dân thành phố Q. Nhưng Phạm Viết K, Lê Th H M là người có trách nhiệm trực tiếp tham mưu, ký duyệt danh sách ngay từ an đầu, dẫn đến việc hình thành một danh sách với 31 thư ng inh không có thật và 02 thư ng inh chuyển công tác n i khác, nên thiệt hại ngân sách Nhà nước trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2018 các cáo phải ch u trách nhiệm với tổng số tiền b cáo H đã chiếm đoạt là 8.447.317.600 đồng.
. Nhận đ nh, quyết đ nh của Tòa án cấp s thẩm:
Đối với Phạm Viết K:
Phạm Viết K làm Trưởng phòng LĐTBXH th xã Q từ 6/2002 đến 10/2005 thì chuyển công tác đến Phòng Tư pháp th xã Q. Trong thời gian công tác tại phòng LĐTBXH th xã Q, Phạm Viết K đã ký duyệt các chứng từ, thủ tục để tiến hành chi trả trợ cấp ưu đãi cho người có công cách mạng liên quan đến 31 thư ng inh không có thật và 02 thư ng inh đã chuyển đến Phòng LĐTBXH huyện S nhận trợ cấp gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước 378.646.000 đồng, cụ thể: Năm 2003 ký duyệt chứng từ, thủ tục tiến hành chi trả trợ cấp ưu đãi gây thất thoát số tiền là 84.759.000; năm 2004 ký duyệt chứng từ, thủ tục tiến hành chi trả trợ cấp ưu đãi gây thất thoát số tiền là 122.040.000 đồng; từ tháng 01/2005 đến tháng 10/2005 ký duyệt chứng từ, thủ tục tiến hành chi trả trợ cấp ưu đãi gây thất thoát số tiền là 170.197.000 đồng.
Đến tháng 10/2005 Phạm Viết K không còn công tác tại phòng LĐTBXH th xã Q nữa, nên không còn trách nhiệm kiểm tra, giám sát, ký duyệt chứng từ tại phòng LĐTBXH th xã Q. Ngày 27/7/2020 C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi khởi tố truy cứu trách nhiệm hình sự Phạm Viết K. Hành vi của b cáo Phạm Viết K gây thất thoát ngân sách Nhà nước từ năm 2003 đến 10/2005 là 378.646.000 đồng đã cấu thành tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy đ nh tại điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự quy đ nh khung hình phạt “phạt cải tạo không giam giữ đến a năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm” là tội phạm nghiêm trọng. Điểm b khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự quy đ nh về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy đ nh như sau: ) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng”. Như đã nhận đ nh ở trên, hành vi của Phạm Viết K đến tháng 10/2005 đã chấm dứt và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Viết K là 10 năm tính từ tháng 10/2005 đến tháng 10/2015. Tuy nhiên ngày 27/7/2020 C quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi mới khởi tố truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Viết K là đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự.
Đối với Lê Thị H M:
Quá trình điều tra bổ sung xác đ nh Lê Th H M làm Kế toán tại Phòng LĐTBXH th xã Q từ tháng 7/2003 đến tháng 12/2003 thì chấm dứt. Lê Th H M đã làm thủ tục chứng từ để Thủ quỹ thực hiện việc chi trả cho 11 thư ng inh khống gây thiệt hại của ngân sách Nhà nước số tiền là 52.570.000 đồng đã cấu thành tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy đ nh tại khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự quy đ nh khung hình phạt “phạt cải tạo không giam giữ đến a năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm” là tội phạm nghiêm trọng. Như nhận đ nh tư ng tự đối với Phạm Viết K thì hành vi của Lê Th H M bắt đầu từ tháng 07/2003 đến thời điểm tháng 12/2003 thì chấm dứt. Do đó, căn cứ theo quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với b cáo Lê Th H M cũng đã hết.
Từ những nhận đ nh trên có đủ c sở để khẳng đ nh hành vi của các cáo Lê Th H M, Phạm Viết K đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết đ nh truy tố các cáo Lê Th H M, Phạm Viết K về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm c khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ. Hội đồng xét xử căn cứ quy đ nh tại Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết đ nh đình chỉ một phần vụ án về phần trách nhiệm hình sự đối với các cáo Lê Th H M, Phạm Viết K. Hủy bỏ toàn ộ các iện pháp ngăn chặn đối với các cáo Lê Th H M và Phạm Viết K.
. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng: Tòa án cấp s thẩm nhận đ nh, đánh giá về thời điểm bắt đầu và kết thúc hành vi thực hiện tội phạm của Phạm Viết K, Lê Th H M. Từ đó đối chiếu hậu quả thiệt hại của hành vi phạm tội mà tội phạm cấu thành và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Viết K, Lê Th H M đã quyết đ nh đình chỉ một phần vụ án về phần trách nhiệm hình sự đối với các cáo Lê Th H M, Phạm Viết K. Hủy bỏ toàn ộ các iện pháp ngăn chặn đối với các cáo Lê Th H M và Phạm Viết K là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Đối với Nguyễn Th Phư ng T:
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Th Phư ng T về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm c khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự với hậu quả số tiền 5.273.800.600 đồng.
Xét thấy: Nguyễn Th Phư ng T làm Kế toán tại Phòng LĐTBXH có trách nhiệm theo dõi lập bảng kê đối tượng tăng, giảm hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng gửi Sở Lao động, Thư ng inh & Xã hội tỉnh Quảng Ngãi; viết giấy giới thiệu chi trả trợ cấp ưu đãi; quản lý, đề xuất cấp phát Sổ lĩnh tiền ưu đãi hàng tháng, lập danh sách chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng cho người có công với cách mạng. Quá trình điều tra và điều tra bổ sung đã xác đ nh Nguyễn Th Phư ng T làm Kế toán tại Phòng LĐTBXH từ tháng 01/2003 đến năm 2009 thì nghỉ và từ tháng 3/2015 đến tháng 5/2015 Nguyễn Th Phư ng T làm Phó Trưởng Phòng LĐTBXH thành phố Q trực tiếp duyệt các chứng từ, thủ tục để tiến hành chi trả trợ cấp ưu đãi cho người có công đã thiếu trách nhiệm, thực hiện không đầy đủ nhiệm vụ đúng quy đ nh đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:
* Trong giai đoạn làm Kế toán tại Phòng LĐTBXH từ tháng 01/2003 đến năm 2009: tiền trợ cấp duyệt quyết toán từ tháng 1/2003 đến tháng 6/2003 là 32.189.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán năm 2004 là 122.040.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán năm 2005 là 201.075.000 đồng và tiền Tết là 1.650.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán năm 2006 là 224.700.000 đồng và tiền Tết là 1.600.000 đồng, tiền Lễ 27/7 là 1.860.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán năm 2007 là 297.504.000 đồng và tiền Tết là 1.980.000 đồng, tiền Lễ 27/7 là 2.310.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán năm 2008 là 370.560.600 đồng và tiền Tết là 1.980.000 đồng, tiền Lễ 27/7 là 2.640.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán từ tháng 1/2009 đến tháng 3/2009 là 102.807.000 đồng và tiền Tết là 2.310.000 đồng. Tổng cộng 1.367.205.600 đồng.
* Trong giai đoạn làm Phó Trưởng Phòng LĐTBXH thành phố Q từ tháng 3/2015 đến tháng 5/2015: Nguyễn Th Phư ng T trực tiếp duyệt các chứng từ, thủ tục để tiến hành chi trả trợ cấp ưu đãi cho người có công cách mạng tổng số tiền là 203.072.000 đồng.
Tòa án cấp s thẩm nhận đ nh b cáo Nguyễn Th Phư ng T thiếu trách nhiệm gây ra hậu quả thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là 1.570.277.600 đồng và xét xử b cáo về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm c khoản 3 Điều 360 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.
. Đối với b cáo Hà Th Kim V:
Hà Th Kim V được phân công nhiệm vụ chi trả tiền trợ cấp cho thư ng inh khối C quan tại phòng LĐTBXH thành phố Q từ tháng 5/2008 đến tháng 6/2018 (thời gian từ tháng 3/2014 đến tháng 9/2014 V nghỉ thai sản). Quá trình chi trả tiền V không iết 31 thư ng inh là không có thật và 02 thư ng inh đã chuyển đến nhận trợ cấp tại Phòng LĐTBXH huyện S. Nhưng vì thiếu trách nhiệm, nên khi Lê Th Thu H, Phạm Th M nhận thay 33 thư ng inh giai đoạn trước ngày 01/7/2013 (ngày Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động Thư ng inh & Xã hội có hiệu lực thi hành) Hà Th Kim V chi trả không đúng đối tượng một thời gian dài. Sau ngày 01/7/2013 Hà Th Kim V không yêu cầu xuất trình giấy ủy quyền theo đúng quy đ nh tại Điều 42 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động Thư ng inh & Xã hội mà vẫn cho nhận thay. Từ đó Hà Th Kim V đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 6.615.174.000 đồng. Tòa án cấp s thẩm đã xét xử Hà Th Kim V về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm c khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.
. Đối với hành vi của b cáo Nguyễn Công M:
Quá trình điều tra và điều tra bổ sung xác đ nh: Nguyễn Công M thực hiện nhiệm vụ quyết toán tại phòng LĐTBXH thành phố Quãng Ngãi thời gian từ 2003 đến 2013 sai quy đ nh đối với 11 thư ng inh không có thật, gây thiệt hại ngân sách Nhà nước tổng số tiền là 1.455.761.000 đồng, cụ thể: tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý III/2003 là 3.852.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý IV/2003 là 10.618.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý I, II, III, IV/2004 là 45.840.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý I/2005 là 23.334.000 đồng và tiền quà Tết 550.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý IV/2005 là 17.397.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý I/2006 là 21.099.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý II/2006 là 21.099.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý III/2006 là 21.099.000 đồng và tiền quà 27/7 là 600.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý I/2007 là 21.099.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý II/2007 34.761.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý I, II, III, IV/2008 là 139.152.000 đồng, tiền quà Tết 660.000 đồng, tiền quà 27/7 660.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý I, II, III, IV/2009 là 160.064.000 đồng, tiền quà Tết 770.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý I, II, III, IV/2010 là 162.674.000 đồng, tiền quà Tết 3.300.000 đồng, tiền quà 27/7 2.700.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán quý I, II, III, IV/2011 là 193.358.000 đồng, tiền quà Tết 3.850.000 đồng, tiền quà 27/7 3.850.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán năm 2012 là 244.976.000 đồng, tiền quà Tết 4.400.000 đồng, tiền quà 27/7 4.400.000 đồng; tiền trợ cấp duyệt quyết toán năm 2013 là 267.832.000 đồng, tiền quà Tết 5.500.000 đồng, tiền quà 27/7 5.500.000 đồng, tiền điều dưỡng 12.210.000 đồng.
Tòa án cấp s thẩm xét xử b cáo Nguyễn Công M về tội phạm về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm c khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.
. Đối với kháng cáo của à Phan Th Thanh H:
Bản án s thẩm nhận đ nh: à Phan Th Thanh H làm công tác chi trả trợ cấp ưu đãi từ tháng 01/2003 đến tháng 9/2006 của 31 thư ng inh không có thật và 02 thư ng inh đã chuyển đến nhận trợ cấp tại Phòng LĐTBXH huyện S, gây thiệt hại 581.509.000đ là đã cấu thành tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên đến nay thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với à Phan Th Thanh H đã hết, nên C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi không xem xét xử lý là có căn cứ, đúng quy đ nh của pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: nhận đ nh của Tòa án cấp s thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó không chấp nhận kháng cáo của à Phan Th Thanh H.
. Về mức hình phạt:
Hành vi phạm tội của các b cáo Lê Th Thu H, Hà Th Kim V, Nguyễn Th Phư ng T, Nguyễn Công M là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của c quan thực hiện chính sách đối với thư ng inh, liệt sĩ và người có công, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Tòa án cấp s thẩm đã nhận đ nh, đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, vai trò thực hiện tội phạm của từng b cáo và áp dụng đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các cáo theo quy đ nh của pháp luật. Từ đó xử phạt: b cáo Lê Th Thu H 18 (mười tám) năm tù; b cáo Hà Th Kim V 03 (ba) năm tù; b cáo Nguyễn Th Phư ng T 03 ( a) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án s thẩm (ngày 22/8/2022); b cáo Nguyễn Công M 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 ( ốn) năm kể từ ngày tuyên án s thẩm (ngày 22/8/2022) là có căn cứ, thỏa đáng và không nặng. Đồng thời, Tòa án cấp s thẩm đình chỉ một phần vụ án về phần trách nhiệm hình sự đối với Phạm Viết K, Lê Th H M do đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ pháp luật.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay, các cáo kháng cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các cáo Lê Th Thu H, Hà Th Kim V, Nguyễn Công M và kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Giữ nguyên bản án s thẩm.
. Án phí hình sự phúc thẩm: các b cáo Lê Th Thu H, Hà Th Kim V, Nguyễn Công M phải ch u theo quy đ nh của pháp luật.
Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 351; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét xử vắng mặt b cáo Nguyễn Th Phư ng T và không chấp nhận kháng cáo của các cáo Lê Th Thu H, Hà Th Kim V, Nguyễn Công M; không chấp nhận kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi; không chấp nhận kháng cáo của à Phan Th Thanh H. Giữ nguyên bản án s thẩm.
2. Tuyên ố b cáo Lê Th Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; các b cáo Hà Th Kim V, Nguyễn Th Phư ng T, Nguyễn Công M phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
2.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt b cáo Lê Th Thu H 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/9/2019.
2.2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 360; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt b cáo Hà Th Kim V 03 ( a) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt b cáo đi chấp hành án và được trừ thời gian tạm giam từ ngày 12/9/2019 cho đến ngày 09/3/2020.
2.3. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 360; điểm b, n, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt b cáo Nguyễn Th Phư ng T 03 ( a) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án s thẩm (ngày 22/8/2022). Giao b cáo Nguyễn Th Phư ng T cho Ủy an nhân dân phường Nghĩa Chánh, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.4. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 360; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt b cáo Nguyễn Công M 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 ( ốn) năm kể từ ngày tuyên án s thẩm (ngày 22/8/2022). Giao b cáo Nguyễn Công M cho Ủy an nhân dân phường Nghĩa Lộ, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi n i cư trú thì thực hiện theo quy đ nh tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.5. Về trách nhiệm của các cáo Phạm Viết K, Lê Th H M: căn cứ Điều 125; Điều 157; Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
2.5.1. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, đình chỉ một phần vụ án về phần trách nhiệm hình sự đối với Phạm Viết K, Lê Th H M.
2.5.2. Hủy bỏ toàn ộ các iện pháp ngăn chặn áp dụng đối với Phạm Viết K, Lê Th H M.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Lê Th Thu H, Hà Th Kim V, Nguyễn Công M mỗi b cáo phải ch u 200.000đ.
Các quyết đ nh khác của ản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - C quan CSĐT-CA tỉnh Quảng Ngãi; - Phòng HSNV-CA tỉnh Quảng Ngãi; - C quan CSTHAHS-CA tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi; - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ngãi; - B cáo; người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Quốc Cường |