vanban.org

Bản án 516/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/04/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 27/02/2009.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Lâm Ái Â. Quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Ái  được ly hôn với ông Liu Yi Ch.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Ái Â-Liu Yi Ch"
  • Tòa quyết gì? lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 27/02/2009.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 469 Bộ luật Tố tụng; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 516/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 26/4/2018.
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Thị Minh Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Quang Cảnh.

2/ Bà Lê Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiển – Thư ký Tòa án nhân dân TP Hồ

Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Lê Tấn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 416/2016/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng

10 năm 2016 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

1298/2018/QĐXX-ST ngày 26 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân TP Hồ

Chí Minh, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lâm Ái Â, sinh năm 1983;

Địa chỉ: 203/26 LLQ, Phường 3, Quận 11, TP Hồ Chí Minh.

Tạm trú: 357/22/61 THĐ, phường A, quận B, TP Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Liu Yi Ch, sinh năm 1959.

Quốc tịch: TQ (ĐL).

Địa chỉ: Số 8/1 Hẻm 369, Đoạn 2 LVH, Khóm 018, phường C, D, E, ĐL.

(Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 20/9/2016, bản tự khai ngày 18/11/2016

của nguyên đơn Bà Lâm Ái  trình bày:

Bà và ông Liu Yi Ch kết hôn theo giấy đăng ký kết hôn số 3082, quyển số

11 do Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh cấp ngày 11/10/2004. Sau khi kết hôn

thì hai vợ chồng bà sang ĐL chung sống với nhau. Cuộc sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn do bất đồng ngôn ngữ, quan điểm sống, sự khác biệt về văn hóa nên đến tháng 5 năm 2005 bà trở về Việt Nam sinh sống và từ đó cho đến nay vợ chồng bà cũng không còn liên lạc với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn gửi Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đề nghị ly hôn với Liu Yi Ch để có điều kiện ổn định cuộc sống.

Con chung: Bà Lâm Ái  khai không có.

Tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Ái  khai không có.

Ngày 22/3/2017, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục

ủy thác tư pháp cho Bộ Tư pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của thông báo việc thụ lý vụ án, tiến hành lấy lời khai và thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 07 tháng 11 năm 2017, lần thứ hai vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 07 tháng 12 năm 2017 và xét xử công khai lần thứ nhất vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 08 tháng 01 năm 2018, xét xử công khai lần thứ hai vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với ông Liu Yi Ch bằng công văn số 38/UTTPDS-TA30.

Ngày 25/5/2017, Bộ Tư pháp đã có công văn số 419/CH- BTP gửi Bộ Tư

pháp Lãnh thổ ĐL hồ sơ ủy thác tư pháp của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Tư pháp Lãnh thổ ĐL thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp nêu trên.

Ngày 08/1/2018, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã có công văn số

193/TATP-TGĐVNCTN gửi Bộ Tư pháp yêu cầu đề nghị thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Ngày 07/3/2018, Bộ Tư pháp đã có công văn số 432/CH-BTP gửi Bộ Tư

pháp Lãnh thổ ĐL đề nghị Bộ Tư pháp Lãnh thổ ĐL hỗ trợ kiểm tra tình hình và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền lãnh thổ ĐL thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp liên quan đến đương sự Liu Yi Ch.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ngày 23/4/2018, nguyên đơn Bà Lâm Ái  có đơn xin vắng mặt trong suốt

quá trình tố tụng giải quyết vụ án, hòa giải và xét xử vì lý do bận công việc.

Bị đơn ông Liu Yi Ch đã được Tòa án nhân TP Hồ Chí Minh tiến hành ủy

thác tư pháp hợp lệ để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông Liu Yi Ch không có văn bản trả lời và vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa

phát biểu ý kiến:

Việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán

chủ tọa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá

trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự về “Nguyên tắc xét xử, thành phần hội đồng xét xử, sự

có mặt của các thành viên trong hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa; Phạm vi

xét xử sơ thẩm” tại phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lâm Ái

 được ly hôn với ông Liu Yi Ch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu của nguyên đơn thuộc tranh chấp

về ly hôn, bị đơn ông Liu Yi Ch có quốc tịch TQ (ĐL), đang cư trú hợp pháp tại

TQ (ĐL) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh

theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 của Bộ

luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về vắng mặt đương sự: Xét Bà Lâm Ái  có đơn đề nghị xét xử vắng

mặt tại phiên tòa. Ông Liu Yi Ch đã được Tòa án nhân TP Hồ Chí Minh tiến

hành ủy thác tư pháp hợp lệ thông báo thời gian xét xử nhưng vắng mặt không

có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Bà Lâm Ái  và ông Liu

Yi Ch theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của Bà Lâm Ái Â, Hội đồng

xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 3082, quyển số 11 do Ủy ban nhân

dân TP Hồ Chí Minh cấp ngày 11/10/2004 có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn

nhân giữa Bà Lâm Ái  và ông Liu Yi Ch là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, bà Ân khai rằng hai vợ chồng bà sang ĐL chung sống với

nhau. Cuộc sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng

không thể hàn gắn do bất đồng ngôn ngữ, quan điểm sống, sự khác biệt về văn

hóa nên đến tháng 5 năm 2005 bà trở về VN sinh sống và từ đó cho đến nay vợ

chồng bà cũng không còn liên lạc với nhau. Xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ

thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau

san sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; nghĩa vụ sống cùng với nhau trong

khi hai vợ chồng Bà Lâm Ái  và ông Liu Yi Ch mỗi người một nơi, tình cảm vợ

chồng càng không có điều kiện vun đắp nên bà Ân yêu cầu Tòa án giải quyết được

ly hôn với ông Liu Yi Ch là có cơ sở để chấp nhận.

Con chung: Không có.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

[3]. Án phí, chi phí tố tụng khác:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lâm Ái  phải chịu theo quy định

tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 27/02/2009.

Chi phí tố tụng khác: Bà Lâm Ái  phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra

nước ngoài theo quy định. Bà Ân đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 2

Điều 38, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 273; Điều 464; điểm d Khoản 1, Khoản 2 Điều 469, điểm c Khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 53, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 57,

Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Pháp

lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 27/02/2009.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Lâm Ái Â.

Quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Ái  được ly hôn với ông Liu Yi Ch.

Giấy chứng nhận kết hôn số 3082, quyển số 11 do Ủy ban nhân dân TP

Hồ Chí Minh cấp ngày 11/10/2004 cho Bà Lâm Ái  và ông Liu Yi Ch không còn giá trị pháp lý.

Con chung: Không có.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

2/ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Bà Lâm Ái  phải

chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0031277 ngày 04/10/2016 của Cục Thi hành án dân sự TP Hồ Chí Minh.

3/ Án xử sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Bà

Lâm Ái  nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với ông Liu Yi Ch thời hạn kháng cáo bản án là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật

thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều

30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ