vanban.org

Bản án 514/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. 1. Về hôn nhân: Cho ông Trần Đại L ly hôn với bà Dương Thị H (Giấy chứng nhận kết hôn số 133, quyển số 01/2013, đăng ký ngày 29/11/2013 tại Ủy ban nhân dân phường P, Quận B, Thành phố H). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 514/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25/7/2023
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh;

2. Bà Lê Thị Quỳnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 650/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Đại L, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số 775 P, Tổ 11B, Khu phố M, phường T, Quận B, Thành phố H (Có mặt).

2. Bị đơn: Bà Dương Thị H, sinh năm 1989; Địa chỉ thường trú: Số 775 P, Tổ 11B, Khu phố M, phường T, Quận B, Thành phố H; Địa chỉ tạm trú: Chung cư E, Tổ B, khu phố C, phường P, Quận B, Thành phố H (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Đại L trình bày:

Ông và bà Dương Thị H qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, Quận B, Thành phố H (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 133, quyển số 01/2013 ngày 29/11/2013).

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 08 (Tám) năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà H thiếu trách nhiệm với gia đình, bỏ bê không quan tâm chăm lo cho chồng con, sống xa rời thực tế, không chung tay xây dựng hạnh phúc gia đình. Ông đã nhiều lần khuyên nhưng bà H vẫn không thay đổi. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và không còn tình cảm với nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2022 đến nay. Ông L xác định cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không có khả năng đoàn tụ với bà Dương Thị H nên yêu cầu được ly hôn với bà Dương Thị H.

- Về con chung: Ông L và bà Dương Thị H có 01 (Một) con chung họ tên là Trần Ngọc Lan C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 09/7/2014. Sau khi ly hôn ông L đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không đề nghị bà H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Ông L xác nhận không có.

- Về nợ chung: Ông L xác nhận không có.

Tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Đại L xác nhận lại yêu cầu khởi kiện nêu trên. Ông L trình bày thêm: Cả hai đã có nhiều biện pháp khắc phục níu kéo hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Năm 2022, ông và bà H đã nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn nhưng xin rút đơn để hàn gắn gia đình, nhưng sau đó mâu thuẫn không được giải quyết, cuộc sống gia đình ngày càng ngột ngạt, không còn hạnh phúc, bà H vẫn không thay đổi, vẫn bỏ bê gia đình chồng con, thiếu trách nhiệm và cố tình trốn tránh không đến Tòa và không thăm nom, chăm sóc con chung từ khi biết Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ly hôn cho đến nay. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ với bà Dương Thị H nên đề nghị được ly hôn với bà Dương Thị H; Về con chung: ông L đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung không có. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.

Về phía bị đơn, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như hòa giải theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bà Dương Thị H vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý; Về xác định tư cách tham gia tố tụng; Xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý; Tuy nhiên về thời hạn chuẩn bị xét xử không đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

* Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn ông Trần Đại L yêu cầu khởi kiện ly hôn với bị đơn bà Dương Thị H và bà H cư trú tại Quận 7; Đây là tranh chấp về ly hôn là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về phía bị đơn, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như hòa giải theo quy định pháp luật và thuộc trường hợp đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Dũng theo Điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì bà Dương Thị H đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng nên bà H phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ có trong hồ sơ.

Về yêu cầu của các đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Đại L và bà Dương Thị H tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn vào năm 2013. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 133, quyển số 01/2013, đăng ký ngày 29/11/2013 tại Ủy ban nhân dân phường P, Quận B, Thành phố H có đủ cơ sở để xác định bà H và ông L là vợ chồng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

Về yêu cầu được ly hôn với bà Dương Thị H của ông Trần Đại L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Dương Thị H không nộp bản tự khai, không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia hòa giải, không có các biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng thể hiện sự thiếu quan tâm đến việc xây dựng gia đình, bỏ mặc quan hệ hôn nhân với ông L. Mặt khác, với những mâu thuẫn do ông L trình bày thì quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà H không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà H cũng chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên việc ông L yêu cầu ly hôn với bà H là có căn cứ chấp nhận phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Về con chung: Ông Trần Đại L và bà Dương Thị H có 01 (Một) con chung họ tên là Trần Ngọc Lan C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 09/7/2014. Sau khi ly hôn ông L đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện con chung đang sống với ông L, ông L đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, có công việc ổn định đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con chung và trẻ Lan Chi cũng có nguyện vọng muốn sống với ba (ông L). Do đó, Hội đồng xét xử giao trẻ Trần Ngọc Lan C cho ông Trần Đại L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hàng tháng: Ông Trần Đại L tự nguyện không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Ông Trần Đại L xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Ông Trần Đại L xác nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Ông Trần Đại L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Quyền kháng cáo: Ông Trần Đại L và bà Dương Thị H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 2 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

1. Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn.

2. Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

2.1. Về hôn nhân: Cho ông Trần Đại L ly hôn với bà Dương Thị H (Giấy chứng nhận kết hôn số 133, quyển số 01/2013, đăng ký ngày 29/11/2013 tại Ủy ban nhân dân phường P, Quận B, Thành phố H).

2.2. Về con chung: Ông Trần Đại L và bà Dương Thị H có 01 (Một) con chung họ tên là Trần Ngọc Lan C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 09/7/2014. Giao con chung là trẻ Trần Ngọc Lan C cho ông Trần Đại L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đại L về việc không yêu cầu bà Dương Thị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Dương Thị H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, vì quyền lợi của con, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Về tài sản chung: Không có.

2.4. Về nợ chung: Không có.

2.5. Án phí sơ thẩm: Ông Trần Đại L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0015004 ngày 01/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, ông L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

3. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ