vanban.org

Bản án 514/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 514/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06/12/2022
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hữu Danh;

2. Ông Huỳnh Thanh Phong

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Triệu Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 455/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 776/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim N, sinh năm 1975; địa chỉ: tổ 04, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ 04, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

(Tại phiên tòa hôm nay bà N vắng mặt có đơn; ông L có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Phan Thị Kim L trình bày:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà N và ông L là do tự tìm hiểu, yêu thương nhau, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới vào năm 2003 và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 đầu năm 2019 thì vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cải, không tìm được tiếng nói chung, ông bà đã sống ly thân từ đó cho đến nay.

Hai bên gia đình đã hàn gắn nhưng bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, có quay về chung sống cũng không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với ông L.

Về con chung: Ông bà có một con chung tên Nguyễn Thị Lệ Q, sinh ngày 14/01/2004, đã trưởng thành, tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà yêu cầu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử do bà kiên quyết ly hôn, không còn tình cảm với ông L.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông L theo quy định nhưng ông L vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của bà N, ông L để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:

Về nơi cư trú: Theo sổ hộ khẩu số 3053 do Công an xã Phước H cấp ngày 14/01/2008 thể hiện ông L vẫn cư trú tại xã P, huyện A, tỉnh An Giang chưa có thông tin tách chuyển đi nơi khác.

Về tình trạng hôn nhân: Theo biên bản ghi nhận ý kiến của bà Lê Thị T – cháu dâu bà N thì bà không biết rõ mâu thuẫn giữa ông L và bà N. Tuy nhiên, bà cho biết từ cuối năm 2018 bà N và ông L xảy ra tranh cãi lớn, gia đình hai bên đã lên tiếng hàn gắn nhưng không có kết quả, bà N đi B làm công nhân, không liên hệ với ông L cho đến ngày nộp đơn yêu cầu ly hôn.

Tại phiên tòa, bà N vắng mặt có đơn nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà theo thủ tục chung.

Ông Nguyễn Văn L trình bày: Do bận công việc nên khi Tòa án tiến hành hòa giải ông không tham gia được. Ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà N về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Ông đồng ý ly hôn với bà N và không có yêu cầu gì

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà N chung sống với ông L đến năm 2018 thì không còn hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông L hiện đang cư trú tại xã P, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, An Giang.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim N, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Về hôn nhân: Bà N và ông L tiến đến hôn nhân là do tự tìm hiểu, yêu thương nhau, được hai bên gia đình đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào năm 2003 nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Mặc dù Tòa án đã động viên và hòa giải nhưng bà N vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông L. Tại phiên hòa giải bà N yêu cầu không tiến hành hòa giải do không còn tình cảm và tại phiên tòa hôm nay bà N vắng mặt đã thể hiện việc không thể quay lại chung sống với ông L. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của ông bà đã được hai bên gia đình lên tiếng hàn gắn nhưng ông bà vẫn không quay lại chung sống. Bà N cho rằng nguyên nhân xin ly hôn là do ông bà bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung và tình cảm vợ chồng. Lời trình bày trên phù hợp với nội dung xác minh tình trạng hôn nhân được Tòa án thực hiện.

Trong quá trình tố tụng, ông L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và đã biết nội dung vụ án nhưng vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay ông có mặt và thống nhất với yêu cầu khởi kiện yêu cầu ly hôn của bà N. Ông cho biết vợ chồng ông đã sống ly thân nhiều năm nay không liên lạc và tình cảm vợ chồng không còn, gia đình hai bên bỏ mặt để ông bà tự giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà Năm là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Ông bà có một con chung tên Nguyễn Thị Lệ Q, sinh ngày 14/01/2004, đã trưởng thành, tự lập nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà N và ông L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Bà N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim N.

1. Về hôn nhân: Bà Phan Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 77 ngày 29/12/2004 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang mang tên bà Phan Thị Kim L và ông Nguyễn Văn L không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí: Bà Phan Thị Kim N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007851 ngày 26/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. Bà N đã nộp đủ.

Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/12/2022), các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ