- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Đ ly hôn chị L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Phạm Ngọc Đ và chị Trần Thị Thúy L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 514/2019/HNGĐ-ST Ngày: 20-9-2019 V/v: Ly hôn, nuôi con giữa anh Đ và chị L |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Giản
Bà Nguyễn Thị Kim Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo – Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 378/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc Đ, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số nhà 14/57 đường H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Chị Trần Thị Thúy L, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số nhà 14/57 đường H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Phạm Ngọc Đ có mặt, bị đơn là chị Trần Thị Thúy L vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05-7-2019, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Phạm Ngọc Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Thúy L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 20-5-2009 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố N. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do chị L có quan hệ ngoại tình, không tu trí làm ăn, ham chơi cờ bạc, không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên mang tài sản của gia đình bán lấy tiền tiêu xài. Anh đã nhiều lần khuyên bảo nhưng chị L không thay đổi. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với chị L.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Phạm Ngọc Phúc A, sinh ngày 19-8-2009. Ly hôn anh có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và công nợ chung: Anh Phạm Ngọc Đ không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là chị Trần Thị Thúy L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm bản tự khai và không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa chị L vẫn vắng mặt. Do đó, chị L không có quan điểm giải quyết vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 25-7-2019 cháu Phạm Ngọc Phúc A có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn.
Biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 30-7-2019, chính quyền địa phương nơi anh Đ và chị L sinh sống cung cấp: Vợ chồng anh Phạm Ngọc Đ, chị Trần Thị Thúy L cư trú tại số nhà 14/57 đường H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Tổ dân phố đã đến hòa giải nhưng không có kết quả. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về cách chi tiêu trong gia đình. Về con chung, vợ chồng có 01 con là Phạm Ngọc Phúc A. Hiện nay cháu Phúc A đang ở cùng với anh Đ và chị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định căn cứ vào Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 97 và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhận xét đánh giá về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét mâu thuẫn giữa anh Phạm Ngọc Đ và chị Trần Thị Thúy L đã trầm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử ly hôn giữa anh Đ và chị L.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Phạm Ngọc Phúc A, sinh ngày 19-8-2009 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Đức không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và công nợ chung: Anh Phạm Ngọc Đ không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là chị Trần Thị Thúy L đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Ngọc Đ và chị Trần Thị Thúy L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 5 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố N là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống của anh Phạm Ngọc Đ và chị Trần Thị Thúy L phát sinh mâu thuẫn. Đối với chị L, Tòa án đã triệu tập nhưng chị L không đến tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa chị L vắng mặt không có lý do thể hiện việc chị L không có thiện chí hòa giải, giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng. Tại phiên tòa anh Đ giữ nguyên yêu cầu đề nghị giải quyết ly hôn với chị L. Xét mâu thuẫn của vợ chồng anh Đ và chị L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử có căn cứ xử cho ly hôn giữa anh Phạm Ngọc Đ và chị Trần Thị Thúy L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh Phạm Ngọc Đ và chị Trần Thị Thúy L có một con chung là Phạm Ngọc Phúc A, sinh ngày 19-8-2009. Cháu A có quan điểm được ở với bố. Chị L không có quan điểm giải quyết về giao nuôi con chung. Để đảm bảo sự ổn định và sự phát triển của con, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu A cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của anh Đ không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản và công nợ chung: Anh Phạm Ngọc Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí ly hôn: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn là anh Phạm Ngọc Đức phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Phạm Ngọc Đ và chị Trần Thị Thúy L.
2. Về nuôi con: Giao con Phạm Ngọc Phúc A, giới tính: nam, sinh ngày 19-8-2009 cho anh Phạm Ngọc Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Thúy L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Trần Thị Thúy L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Phạm Ngọc Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Đ đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002383 ngày 17 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
4. Quyền kháng cáo: Anh Phạm Ngọc Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị Thúy L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - UBND phường Q, TP. N; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Bang |