- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp nợ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 513/2024/DS-ST Ngày: 13/6/2024 V/v: Tranh chấp kiện đòi nợ |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Trƣờng Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Doãn Ƣớc, ông Nguyễn Phƣơng Phú
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh Thƣ -Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sở thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2024/DSST, ngày 22 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-DS, ngày 03/6/2024, giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông; Lô Văn Th, sinh năm 1972. Địa chỉ: Bản Thanh Yên, xã TS,
huyện TC, tỉnh NA. Có mặt tại phiên toà.
1.2. Bà Quang Thị M, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Bản Thanh Yên, xã TS, huyện TC, tỉnh NA. Có mặt tại phiên toà.
Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có bà Võ Thị
Hoài -Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nƣớc tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt tại phiên toà.( Nhƣng có văn bản gửi bài bảo vệ cho nguyên
đơn).
2. Bị đơn:
2.1.Ông Quang Văn M, sinh năm 1985. Địa chỉ: Bản Thanh Lâm, xã TS, huyện TC, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên toà.
2.2. Bà Lô Thị M, sinh năm 1986, sinh năm 1985. Địa chỉ: Bản Thanh Lâm, xã TS, huyện TC, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa, nguyên đơn, ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M trình bày như sau:
Ông và bà với vợ chồng Quang Văn M và bà Lô Thị M có quan hệ là họ hàng với nhau.
Vào ngày 11 tháng 10 năm 2019, vợ chồng ông Quang Văn M và bà Lô Thị M đến tại nhà nhờ vợ chồng ông và bà vay Ngân hàng cho một số tiền. Do có quan hệ là anh em họ với nhau nên bản thân ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M đã dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng đến tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An, phòng giao dịch Cát Ngạn vay với số tiền 60.000.000 đồng
Sau khi vay đƣợc số tiền 60.000.000 đồng trên thì ông đã đƣa cho vợ chồng ông Quang Văn M và bà Lô Thị M và hai bên có thống nhất với nhau về tiền lãi suất cũng nhƣ thời hạn trả gốc theo đúng cam kết với Ngân hàng và bản thân ông Quang Văn M và bà Lô Thị M cũng đã đứng ra trả lãi cho Ngân hàng từ thời gian tháng 10 năm 2019 cho đến tháng 11 năm 2020. Sau thời điểm này thì bà Lô Thị M và ông Quang Văn M không thực hiện việc trả lãi cho Ngân hàng theo thoả thuận của các bên.
Hiện nay số tiền này ông và bà phải đứng ra trả cho Ngân hàng theo Hợp đồng đã ký kết với tổng số tiền gốc là 60.000.000 đồng và số tiền lãi là 38.280.000 đồng.
Nay ông và bà yêu cầu vợ chồng ông Quang Văn M và bà Lô Thị M phải có trách nhiệm trả lại số tiền 98.280.000 đồng.
Ngoài các ý kiến đã trình bày, ông, bà không có thêm bất cứ yêu cầu gì nữa cả, ông, bà cũng không yêu xử lý tài sản thế chấp.
Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù bị đơn ông Quang Văn M và bà Lô Thị M đã đƣợc tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định. Nhƣng bị đơn đều cố tình vắng mặt cho nên Toà án không tiến hành lấy lời khai hay tiến hành Hoà giải để các bên tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nhƣng trong quá trình Hoà giải và đối thoại tại Toà án vào ngày 08 tháng 11 năm 2023 bản thân bà Lô Thị M có thừa nhận vợ chồng bà là ông Quang Văn M và Lô Thị M hiện đang bị ông Lô Văn Th khởi kiện yêu cầu trả số tiền 98.280.000 đồng và bà nhất trí số nợ đó và cũng yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Võ Thị Hoài trình bày: Việc ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M yêu cầu ông Quang văn Mây và bà Lô Thị M trả số tiền 98.280.000 đồng là có căn cứ bởi các lý do sau: Theo giấy cam kết đề ngày 11/10/2019 thì ông Quang Văn Mây và bà Lô Thị M có viết giấy đề nghị ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M vay số tiền là 60.000.000 đồng. Sau khi vay đƣợc số tiền từ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An thì ông Lô Văn Th với ông Quang Văn M có lập Giấy vay tiền đề ngày 07/11/2020 với nội dung ông Lô Văn Th cho ông Quang Văn M vay với số tiền là 60.000.000 đồng và các bên thống nhất số tiền lãi cũng nhƣ thời gian trả gốc là theo Hợp đồng giữa Ngân hàng với ông Lô Văn Th và bản thân ông Quang Văn M cũng đã thanh toán khoản lãi cho ngân hàng theo quy định từ tháng 10/2019 đến tháng 11 năm 2020 mới dùng việc thanh toán cho nên khẳng định việc vay là có thực là mức lãi suất là 11%/ năm. Cho nên đề nghị Toà án buộc ông Quang Văn M và bà Lô Thị M có trách nhiệm trả số tiền trên cho ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và ngƣời tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung: Đề nghị Tòa án, xử: Buộc vợ chồng ông Quang Văn M và bà Lô Thị M trả cho ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M số tiền cả gốc và lãi là 98.280.000 đồng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc, và lãi cho nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn có nơi cứ trú tại xã Thanh Sơn, huyện Thanh Chƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An.
Tại phiên toà hôm nay ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn vắng mặt nhƣng đã có bài bào chữa gửi Hội đồng xét xử. Còn bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng. Nhƣng đây là phiên toà mở lại lần thứ 2 cho nên việc xét xử vắng mặt bị đơn là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Vào ngày 11 tháng 10 năm 2019, vợ chồng ông Quang Văn M và bà Lô Thị M đến tại nhà nhờ vợ chồng ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M vay Ngân hàng cho một số tiền. Do có quan hệ là anh em họ với nhau nên bản thân ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M đã dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng đến tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An, phòng giao dịch Cát Ngạn vay với số tiền 60.000.000 đồng
Sau khi vay đƣợc số tiền 60.000.000 đồng trên thì ông Lô Văn Th đã đƣa cho vợ chồng ông Quang Văn M và bà Lô Thị M và hai bên có thống nhất với nhau về tiền lãi suất cũng nhƣ thời hạn trả gốc theo đúng cam kết với Ngân hàng và bản thân ông Quang Văn M và bà Lô Thị M cũng đã đứng ra trả lãi cho Ngân hàng từ tháng 10 năm 2019 cho đến tháng 11 năm 2020. Sau thời điểm này thì bà Lô Thị M và ông Quang Văn M không thực hiện việc trả lãi cho Ngân hàng theo thoả thuận của các bên.
Hiện nay số tiền này ông và bà phải đứng ra trả cho Ngân hàng theo Hợp đòng đã ký kết với tổng số tiền gốc là 60.000.000 đồng và số tiền lãi là 38.280.000 đồng.
Nay ông và bà yêu cầu vợ chồng ông Quang Văn M và bà Lô Thị M phải có trách nhiệm trả lại số tiền 98.280.000 đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ số tiền gốc và lãi theo mức lãi suất Ngân hàng quy định đã vay theo giấy vay tiền vào ngày 07/11/2020 với số tiền gốc là 60.000.000 đồng và tiền lãi 38.280.000 đồng là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với các chứng cứ do bên nguyên đơn cung cấp, cũng nhƣ lời thừa nhận của bị đơn trong quá trình Hoà giải đối thoại tại Toà án..
Xét ý kiến của bị đơn:
Xét ý kiến của bị đơn là có căn cứ để chấp nhận, bị đơn đồng ý trả số tiền gốc và lãi suất đã vay theo Đơn khởi kiện của nguyên đơn với số tiền 98.280.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên:
Các ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các chứng cứ khác có tại hồ sơ đã đƣợc làm rõ tại phiên tòa.
Vì vậy cần buộc vợ chồng ông Quang Văn M và bà Lô Thị M có trách nhiệm liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M số tiền gốc là 60.000.000 đồng và số tiền lãi tính từ tháng 10/2020 đến nay là 38.280.000 đồng.
Tổng cộng cả gốc và lãi là 98.280.000 đồng
Về án phí: Bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 275; 288; 357; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M
2. Buộc ông Quang Văn M và bà Lô Thị M có trách nhiệm liên đới trả nợ cho ông Lô Văn Th và bà Quang Thị M, số tiền cả gốc và lãi là: 98.280.000 đồng (Chín mươi tám triệu hai trăm tám mươi nghìn).
3. Về án phí: Vợ chồng Quang Văn M và bà Lô Thị M, phải chịu: 4.914.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Kể từ bản án có hiệu lức pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền còn phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
5. Trƣờng hợp bản án, đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Nghệ An - VKS huyện Thanh Chương - Chi cục THA dân sự - Các đương sự - Lưu HS, VP. CÁC HỘI THẨM Nguyễn Thị Phi Yến Nguyễn Thị Hiền Lƣơng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Trƣờng Giang HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Trƣờng Giang |