vanban.org

Bản án 510/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 20/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [3] Về án phí: Bị cáo Lê Quang T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kháng cáo của bị cáo phạm tội giết người đối với bản án - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂNCẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 510/2022/HS-PT
Ngày: 20/7/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Hưng;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tất Nam;

Bà Lê Thị Mai.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiễm, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 223/2022/TLPT-HS ngày 02 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo Lê Quang T phạm tội “Giết người”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Quang T, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: T “cò”; Nơi ĐKHKTT: Số nhà A1, tổ U, cụm M1, phường X, quận B, Hà Nội; Nơi ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Quang T1, sinh năm 1963 và bà: Bùi Thị L, sinh năm 1970; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 12/12/2011, bị Công an phường N, quận F, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2021 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm TH thuộc Công ty Luật TNHH Y thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Số A2, ngõ O1, đường R1, quận G, thành phố Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21h30 phút ngày 29/4/2017, Nguyễn Trọng H (tức H “chập”, sinh năm 1983; trú tại số 33 ngõ O3, phố R3, phường N2, quận F, Hà Nội) gọi điện thoại mời Lê Minh N (tức N “trọc”, sinh năm 1975; trú tại 33 phố X3, phường R, quận K, Hà Nội) đi uống rượu cùng với nhóm của H gồm anh Hoàng AT, anh Phạm Trọng T2, chị Trần Mai L1 (vợ anh T2), anh Nguyễn MH và anh Nguyễn Quốc V tại vỉa hè trước cửa nhà số 33, Phố R3, phường D, quận F, Hà Nội. Do N đang ngồi chơi, uống cà phê cùng với Trịnh Viết T3 (tức T3 “đồng”, sinh năm 1978; trú tại số 2 phố Thợ Nhuộm, phường N3, quận K, Hà Nội) tại quán cà phê ở số 38, phố V2, phường N3, quận K, Hà Nội, nên từ chối. Nghe vậy, H nói với N: “Mày coi T3 “đồng” hơn tao thì mày đi đi” thì N trả lời: “Tôi xin lỗi, mai tôi xuống anh em mình ngồi sau” rồi tắt máy. T3 nghe được nội dung cuộc điện thoại giữa N và H, cho rằng H “chập” ít tuổi hơn nhưng không gọi mình là anh nên tỏ thái độ bực tức. Sau đó, T3 và H nhiều lần gọi điện thoại thách thức nhau.

Khoảng 22 giờ ngày 29/4/2017, Trịnh Viết T3, Lê Minh N cùng với Nguyễn Viết C (sinh năm 1994; trú tại 15C, ngách 189/125, phố V1, tổ 7, phường X2, quận G, Hà Nội), Vũ Tá Đ (sinh năm 1994; trú tại số 13/19/190 đường M2, phường R4, quận M2, Hà Nội), Lê Quang T (sinh năm 1994; trú tại số 2 tổ 53 cụm 7 phường X, quận B, Hà Nội) và Văn Đức H1 (sinh năm 1995; trú tại số 4, nhà B, tập thể K30, phường P2, quận B, Hà Nội), gặp nhau và uống rượu tại số 67, phố P1, Hà Nội.

Khoảng 0h30 phút ngày 30/4/2017, Nguyễn Trọng H tiếp tục gọi điện cho T3 và hai bên có “lời qua Tg lại” vì trước đó giữa T3 và H đã nhiều lần gọi điện thách thức nhau. Đ và T biết giữa T3 và H có mâu thuẫn nên rủ C và H1 đi 02 xe máy về nơi T ở tại số 48, ngách 100, ngõ O4, phường X4, quận Đ4, Hà Nội để lấy hung khí đi đánh H, trả thù cho T3. Về đến nơi, Đ cùng C và H1 đứng ngoài ngõ, còn T vào nhà lấy 03 tuýp sắt dài khoảng 01m, một đầu gắn dao nhọn mang ra đưa cho Đ 02 tuýp sắt gắn dao nhọn, Đ bảo C cầm để Đ điều khiển máy Vespa biển kiểm soát 29C1-121xx chở C; còn H1 điều khiển xe Vespa biển kiểm soát 29K1-471XX chở T ngồi sau cầm 01 tuýp sắt. Tất cả đi theo hướng đường S1 – Đ2 – E2 - C2 – R3.

Khi đến ngõ O3 Phố R3, Đ, C, T và H1 nhìn thấy có đông người tụ tập trước cửa nhà anh Phạm Trọng T2 nên dừng xe lại. Đ xuống xe giật 01 tuýp sắt từ tay C rồi đi bộ về hướng nhà anh T2. Anh T2 đang đứng trước cửa nhà nhìn thấy nhóm Đ cầm hung khí T lại phía mình thì bỏ chạy dọc vỉa hè Phố R3 về hướng phố N2. Đ nhìn thấy anh T2 bỏ chạy, tưởng anh T2 là H nên Đ chạy bộ, tay cầm tuýp gắn dao phóng đuổi theo anh T2; H1 điều khiển xe Vespa biển kiểm soát 29K1-471XXchở T tay cầm 01 tuýp sắt gắn dao phóng đuổi theo; C cũng cầm tuýp gắn dao phóng cùng Đ đuổi theo anh T2 một đoạn rồi quay lại lấy xe Vespa màu đỏ biển kiểm soát 29C1-121xx, tay cầm 01 tuýp sắt gắn dao phóng xe máy đuổi theo sau. Anh T2 bỏ chạy đến trước số nhà 105, Phố R3, phường D, quận F thì H1 chở T vượt lên chặn đầu; Anh T2 chạy bộ qua đường sang trước số nhà 102, Phố R3 thì bị vấp ngã nằm xuống đất. T nhảy xuống xe, cầm tuýp sắt gắn dao phóng lao vào đâm 02 nhát vào bắp đùi và bắp chân của anh T2; Đ cầm tuýp sắt gắn dao phóng chạy đến vụt 01 phát về phía chân anh T2. Cùng lúc này, tổ tuần tra Công an phường D làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đi qua thấy có đánh nhau nên dừng lại. Đ và T lên xe máy do H1 điều khiển bỏ chạy về hướng C2 - Phố X3; C điều khiển xe máy đuổi theo đến nơi thì thấy H1, T và Đ bỏ chạy nên cũng vòng xe lại bỏ chạy về phía đường C2. Sau đó cùng bỏ trốn.

Hậu quả: Anh Phạm Trọng T2 bị nhóm Đ, C, T và H1 đuổi đánh, đâm nhiều nhát, bị thương tích nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện N2 nhưng đã tử vong.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 3317 ngày 01/6/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội đối với nạn nhân Phạm Trọng T2, kết luận:

“- Quần nạn nhân có các vết rách vải gọn tương ứng với các vết thương trên cơ thể.

- Vùng mặt, ngực, lưng, tay và chân có các vết sây sát da.

- Vết thương mặt sau đùi phải cắt đứt cơ và cắt đứt hoàn toàn động mạch đùi.

- Mặt sau ngoài cẳng chân trái có vết thương hình khe cắt đứt cơ và động mạch khoeo, vết này xuyên ra mặt trước gối trái.

- Máu nạn nhân thuộc nhóm 0.

- Trong máu nạn nhân có tìm thấy thành phần Ethanol, nồng độ Ethanol là 197,8mg/100ml máu.

- Nguyên nhân chết: Mất máu cấp không hồi phục do vết thương cắt đứt động mạch đùi phải và động mạch kheo chân trái.

- Thương tích mặt sau đùi phải và mặt sau cẳng chân trái do vật sắc nhọn một lưỡi tác động dạng đâm gây nên.

- Vết rách da nông mặt sau cẳng chân phải do vật sắc tác động dạng đâm sượt qua gây nên”.

Lê Quang T bỏ trốn khỏi nơi cư trú và bị Cơ quan điều tra quyết định truy nã, đến ngày 03/9/2021, ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Đồng thời, khai nguồn gốc của 03 thanh tuýp sắt gắn dao phóng các đối tượng sử dụng làm hung khí tham gia đuổi đánh, chém anh T2 là do T mua từ đầu năm 2017, cất giấu ở nhà để phòng thân, do thời gian đã lâu T không nhớ rõ đã mua tuýp sắt gắn dao phóng ở đâu.

Đối với Văn Đức H1 và Nguyễn Viết C: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 49/2019/HS-ST ngày 30/01/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử phạt Văn Đức H1 và Nguyễn Viết C, mỗi bị cáo 11 năm tù về tội Giết người. Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội kháng nghị và các bị cáo kháng cáo. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 396/2019/HS-PT ngày 15/7/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã giữ nguyên án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Văn Đức H1 và bị cáo Nguyễn Viết C, mỗi bị cáo 11 năm tù về tội “Giết người”.

Đối với Trịnh Viết T3: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 79/2021/HS-ST ngày 19/03/2021, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử phạt bị cáo Trịnh Viết T3 23 tháng 25 ngày tù về tội “Không tố giác tội phạm”.

Đối với Vũ Tá Đ đã bị khởi tố về tội “Giết người” nhưng trong giai đoạn điều tra vụ án, bị can Đ bị mắc bệnh tâm thần nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Đ tại Bệnh viện tâm thần trung ương I. Cơ quan điều tra đã quyết định tách vụ án hình sự, tách hành vi của Vũ Tá Đ; đồng thời quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Vũ Tá Đ, khi Đ chữa khỏi bệnh sẽ phục hồi, xử lý sau.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, giải quyết vụ án, gia đình các bị cáo Nguyễn Viết C, Văn Đức H1, Vũ Tá Đ và Lê Quang T đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 500.000.000 đồng. Chị Trần Mai L1 là người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu thêm và có đơn xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Lê Quang T.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 45; 46; 136; 260; 268; 269; 299; 326; 327; 329; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTCQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang T phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n, khoản 1, Điều 123; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 40 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Quang T tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/01/2022, bị cáo Lê Quang T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; tỏ thái độ ăn năn, hối cải, đã tự ra đầu thú; trình bày về hoàn cảnh của bản thân, gia đình và xin được giảm hình phạt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục xem xét các tình tiết giảm nhẹ như Tòa án cấp sơ thẩm đã nêu, đồng thời xem xét tình tiết tự ra đầu thú và thái độ của bị cáo tại phiên tòa cũng như hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét việc đại diện người bị hại tiếp tục xin giảm hình phạt cho bị cáo; xem xét hoàn cảnh gia đình và thái độ của bị cáo tại phiên tòa để chấp nhận kháng cáo và chuyển hình phạt cho bị cáo từ tử hình sang chung thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố xét xử sơ thẩm, đã được cơ quan và người T hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không có ý kiến khiếu nại.

Ngày 27/01/2022, bị cáo Lê Quang T có đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là trong thời hạn luật định nên được xem xét theo quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo :

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, những lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các lời khai của các bị cáo khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định: Khoảng 0h30 phút ngày 30/4/2017, Lê Quang T cùng Vũ Tá Đ, Nguyễn Viết C và Văn Đức H1 ngồi uống rượu với Trịnh Viết T3 tại số 67, phố P1, quận B, thành phố Hà Nội. Khi biết T3 có mâu thuẫn với Nguyễn Trọng H, T cùng Đ, C và H1 tự điều khiển 02 xe máy đi về nhà T lấy 03 tuýp sắt gắn dao phóng rồi đi tìm đánh H. Khi đến trước số nhà 33, Phố R3, phường D, quận F, thành phố Hà Nội thấy anh Phạm Trọng T2 (bạn của H) bỏ chạy thì nhóm của T đuổi đánh. Đ chạy bộ, tay cầm tuýp gắn dao phóng; H1 điều khiển xe Vespa biển kiểm soát 29K1-471XXchở T tay cầm 01 tuýp sắt gắn dao phóng; C điều khiển xe Vespa màu đỏ biển kiểm soát 29C1-121xx, tay cầm 01 tuýp sắt gắn dao phóng cùng đuổi theo anh T2. Khi anh T2 chạy bộ qua đường, sang trước cửa số nhà 102 - 104 Phố R3 thì bị vấp ngã, Đ cầm tuýp sắt có gắn dao phóng vụt 01 phát vào cẳng chân; T dùng tuýp sắt có gắn dao phóng đâm 02 nhát vào bắp đùi và bắp chân của anh T2 gây đứt hoàn toàn động mạch đùi phải, cắt đứt cơ và động mạch khoeo chân trái, làm anh T2 bị tử vong do mất máu cấp không hồi phục. Sau khi đâm anh T2 xong, nhóm của Đ mang theo số hung khí đến cất giấu tại cửa hàng cầm đồ của T3 rồi bỏ trốn.

Lê Quang T không mâu thuẫn với anh Phạm Trọng T2 và mặc dù bị cáo khai không có mục đích tước đoạt tính mạng anh T2, nhưng hậu quả do hành vi của bị cáo đã dẫn đến nạn nhân tử vong do mất máu cấp không hồi phục. Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự với tình tiết “Có tính chất côn đồ” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo dùng dao đâm 02 nhát vào đùi, chân anh T2 là không nhằm vào các phần trọng yếu của cơ thể nạn nhân để đâm, hành vi phạm tội đó là khó thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn, nH đã tự ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình đã bồi thường thiệt hại, đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt cao nhất đối với bị cáo là nghiêm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện người bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình có đơn trình bày hoàn cảnh, đồng thời mẹ đẻ bị cáo có mặt tại phiên tòa và trình bày về hoàn cảnh gia đình là khó khăn, bố mẹ không sống chung nhau, bị cáo là con duy nhất, trước khi phạm tội bị cáo sống với bà ngoại… là những tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên cần được tiếp tục xem xét cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không cần thiết phải loại bỏ bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà nên áp dụng một mức hình phạt phù hợp để cải tạo bị cáo.

Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo của bị cáo là có cơ sở để xem xét chấp nhận. Vì vậy, cần chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung; tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo để sớm hòa nhập cộng đồng; thể hiện tính khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.

Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Các quyết định khác không có kháng cáo không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2022/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Quang T tù chung thân, về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2021.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Về án phí: Bị cáo Lê Quang T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ