- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thái Thị Minh Châu - Hoàng Tích Thiện"
- Tòa quyết gì? * Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Hoàng Tích Th về mặt hình thức.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 510/2022/HNGĐ-PT Ngày: 24/08/2022 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
́
̀
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀ NH PHÔ HÔ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Thẩm phán:: 1. Bà Trần Thị Lệ Uyên
2. Ông Phan Trịnh Minh Đức
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chi Minh.́
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Phạm Phương Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 22/2022/TLPT-HNGĐ ngày 8/3/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 2753/2021/HNGĐ-ST ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4260/2022/QĐ-PT ngày 03/8/2022giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thái Thị Minh C, sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ: Trần Xuân Soạn, Tổ 1, phường T, Thành phố H.
- Bị đơn: Ông Hoàng Tích Th, sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ: đường số 6 khu dân cư A, xã P, huyện N, Thành phố H.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Hoàng Tích Th.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Thái Thị Minh C trình bày:
Bà C và ông Th có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 33, quyển số 1, ngày 06/04/2013 tại Ủy ban nhân dân phường Diên Hồng, Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó nảy sinh mâu thuẫn, hai bên đã nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà C yêu cầu được ly hôn với ông Th.
Về con chung: có 1 con chung tên Hoàng Thái Minh Kh (nam) sinh ngày 21/08/2017, sau khi ly hôn bà C yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: không có.
Theo bị đơn ông Hoàng Tích Th trình bày: ông thống nhất trình bày của bà C về việc kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung và đồng ý ly hôn với bà C, tuy nhiên ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con do bà C không có điều kiện về nhà ở, tiền lương như ông.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 2753/2021/HNGĐ-ST ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
-Công nhận việc thuận tình ly hôn của bà Thái Thị Minh C và ông Hoàng Tích Th, tài sản chung, nợ chung xác định không có.
-Xử: Giao bà C trực tiếp nuôi trẻ Kh, bà C không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.
Ngoài ra bản án còn tuyên còn tuyên về án phí, quyền, nghĩa vụ của cha mẹ với con chung sau khi ly hôn, quyền kháng cáo, việc thi hành án theo quy định của pháp luật. Ngày 05/01/2022 bị đơn ông Hoàng Tích Th có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc nuôi con.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Thái Thị Minh C trình bày: sau khi kết hôn năm 2013 bà về sống cùng chồng tại nhà số 121 đường 6 khu dân cư Phước Kiển A, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017 bà sinh trẻ Kh, ở đây đến đầu năm 2020 thì bà C đưa con về sống cùng gia đình người dì tại nhà 209/12 Trần Xuân Soạn quận 7 đến nay, căn nhà này do người dì của bà C đứng tên sở hữu.
Thời gian bà và ông Th còn chung sống có mở shop bán áo dài ở quận Bình Thạnh và tại nhà 209/12 Trần Xuân Soạn quận 7; tháng 11/2020 bà C đăng ký và được Ủy ban nhân dân quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh cấp “giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh” số 41G8044005 ngày 19/11/2020 địa điểm kinh doanh tại nhà 209/12 Trần Xuân Soạn quận 7 với vốn kinh doanh 20.000.000đ, có trưng bảng hiệu tại nhà, ai đến mua thì bán nhưng chủ yếu bán online với thu nhập khoảng 18.000.000đ-19.000.000đ/tháng, trẻ Kh học tại trường khá gần nhà; bà vẫn đảm bảo nuôi con nên đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn ông Hoàng Tích Th đồng thời là người kháng cáo trình bày: ông có công việc làm, thu nhập ổn định khoảng 27.000.000đ/tháng, ngoài ra còn có tiền thưởng, có thời gian để trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, có chỗ ở và được sự giúp đỡ thêm của cha mẹ ông nên ông có đủ điều kiện nuôi con. Còn bà C công việc, thu nhập không ổn định, có lối sống, thói quen sinh hoạt hướng ngoại, thường hay tụ tập bạn bè ăn uống, đi nhậu, nhiều lần ông liên lạc, nhắn về với con bà C không về, nhiều khi đi rất khuya và tình trạng này ngày càng kéo dài, ông có trao đổi, góp ý nhưng bà C không tiếp thu dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn. Thời gian bà C tự ý mang con ra đi nơi khác ở ông không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn thường đến thăm nom, cấp dưỡng, mua sữa cho con; về phía bà C và gia đình từng cản trở không tạo điều kiện cho ông thăm con; có lần trẻ Kh còn cho biết mẹ bận nên ở với cậu, bị cậu đánh mà mẹ không biết khiến ông không yên tâm về môi trường sống của con, thương và lo cho con vì những lần bà C về khuya ông là người ở nhà chăm sóc cho con và trực tiếp chăm sóc con từ lúc con mới sinh đến khi bà C tự đưa con đi. Do đó, ông giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
Về việc kháng cáo của bị đơn: ông Th nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định nên hợp lệ về hình thức. Xét về mặt kinh tế và tính chất công việc, ông Th là kỹ sư với mức lương 27.000.000đ/tháng, làm việc theo giờ hành chính nên có thời gian chăm sóc cho con, bà C bán áo dài online với thu nhập tự khai khoảng 18.000.000đ/tháng thấp hơn ông Th và không ổn định. Thời gian chung sống bà C hay tụ tập bạn bè, chưa làm tròn nghĩa vụ chăm con. Xét về nơi ở, chỗ ở của ông Th thoáng mát, đảm bảo không gian sinh hoạt vui chơi phù hợp lứa tuổi của trẻ còn nơi ở của bà C có phần hạn chế hơn. Mặt khác, ông Th có sự hỗ trợ thêm của cha mẹ, trẻ Kh là con trai, cần có sự gần gũi, hướng dẫn, giáo dục giới tính của người cha, lúc bà C vắng nhà ông Th cũng là người trực tiếp chăm con nên có kinh nghiệm; xét về điều kiện tinh thần, vật chất để nuôi con của ông Th tốt hơn bà C nên kháng cáo xin trực tiếp nuôi con của ông Th là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần án sơ thẩm, chấp nhận. kháng cáo của ông Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA Á N:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Hoàng Tích Th làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại Điều 271 ; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Bà C và ông Th có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 33, quyển số 1, ngày 06/04/2013 do Ủy ban nhân dân phường Diên Hồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai cấp nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Do cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà C và ông Th thuận tình ly hôn, về tài sản chung và nợ chung hai bên xác định không có; phần này đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Th:
Hội đồng xét xử nhận thấy bà C và ông Th đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nếu được giao nuôi con không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con thể hiện cha mẹ đều có tình cảm yêu thương con như nhau.
Tuy nhiên, xét về thu nhập và điều kiện làm việc bà C hiện bán hàng tại nhà trong hẻm nên điều kiện kinh doanh có phần hạn chế, chủ yếu là bán hàng online nên không có tính ổn định, thu nhập cũng hạn chế hơn ông Th. Theo trình bày của các đương sự và chứng cứ trong hồ sơ thể hiện do thói quen sinh hoạt và điều kiện công việc nên thực tế bà C nhiều khi phải về muộn, thời gian dành cho con có hạn chế còn ông Th làm việc theo giờ hành chính nên thời gian làm việc ổn định hơn, có thời gian để chăm sóc con. Về chỗ ở, bà C ở cùng gia đình người dì, nhà ở trong hẻm, được bà C sử dụng chung làm địa điểm để bán hàng nên không gian sinh hoạt có phần hạn chế; ông Th có nhà ở riêng được cha mẹ giao cho toàn quyền quản lý, sử dụng, đảm bảo không gian sinh hoạt, học tập phù hợp lứa tuổi trẻ Kh, nhà nằm ở mặt tiền đường trong khu dân cư mới, được quy hoạch cảnh quan môi trường, mảng xanh, có trường học ngay trong nội khu. Về giới tính trẻ Kh là nam đã trên 5 tuổi, thực tế từ lúc mới sinh đến năm 2020 trẻ Kh đã sống tại nhà ông Th nên đã quen thuộc, ông Th là kỹ sư có đủ trình độ nuôi dạy con và cũng đã có thời gian dài cùng bà C nuôi con, trực tiếp chăm sóc con, nhất là thời gian bà C vắng nhà, về muộn. Mặt khác, cha mẹ ông Th còn khỏe, có điều kiện kinh tế (thu nhập từ nhà cho thuê), có văn bản trình bày nguyện vọng, cam kết hỗ trợ, phụ giúp ông Th nuôi cháu nội. Vừa qua, ông Th đã liên hệ làm thủ tục xin cho con vào học tại Trường mầm non “Khủng Long Con” cách nhà ông Th khoảng 90m để thuận tiện cho việc học của trẻ và nhà trường đã đồng ý tiếp nhận; xét điều kiện nuôi con thực tế của ông Th đảm bảo tốt và thuận lợi hơn bà C nên yêu cầu của ông Th được trực tiếp nuôi con chung là có cơ sở và phù hợp quy định pháp luật, do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Th, sửa một phần bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
[3] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nguyên đơn phải chịu;
Án phí dân sự phúc thẩm : Do kháng cáo được chấp nhận nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm, theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 147, 148, 306 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 56,57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008, đã sửa đổi bổ sung năm 2014,
Tuyên xử:
* Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Hoàng Tích Th về mặt hình thức.
* Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị Minh C. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hoàng Tích Th, sửa một phần bản án hôn nhân sơ thẩm số 2753/2021/HNGĐ-ST ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị Minh C và ông Hoàng Tích Th thuận tình ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung tên Hoàng Thái Minh Kh (nam), sinh ngày 21/8/2017 cho ông Hoàng Tích Th trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Th không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
4.Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đ bà Thái Thị Minh C phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà C đã tạm nộp theo biên lai thu tiền số 0005153 ngày 22/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai. Bà C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ ông Hoàng Tích Th không phải chịu. Hoàn lại cho ông Th số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã tạm nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0025713 ngày 12/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trườ ng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TC; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Chi cục THADS Thành phố Thủ Đức; - TAND thành phố Thủ Đức; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HS, VT (T/25). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Phương |