- Tranh chấp gì? "Huỳnh Thoại M và Nguyễn Trung H tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Thoại M, Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 51/2020/HS-ST Ngày: 25-11-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thạch Thị Thúy Ái và bà Cao Thị Diệu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thành ph a Đ c, tỉnh Đồng Tháp.
- i di n i n ki m sát nhân dân thành ph a éc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Mãi - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành ph a Đ c, tỉnh Đồng Tháp x t xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 50/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử s 51/2020/QĐXX T-HS ngày 12 tháng 11 năm 2020 đ i với các bị cáo:
1. Họ và tên: Huỳnh Thoại M, sinh năm 1991
Tại thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Nơi cư trú: Ấp E, xã O, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
Nghề nghiệp: Làm thuê;
Trình độ học vấn: 9/12
Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam
Con ông: Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1969
Vợ: Võ Thị Thanh N, sinh năm 1995
Con: có 04 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015
Tiền sự, tiền án: Không
Tạm giữ: ngày 21/7/2020 đến ngày 30/7/2020 được tại ngoại
Hiện bị cáo tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú
Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Trung H, sinh năm 1993
Tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp
Nơi cư trú: Ấp E, xã O, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
Nghề nghiệp: Làm thuê;
Trình độ học vấn: 12/12
Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1972
Vợ: Trần Thị G, sinh năm 1995
Con: có 01 người tên Nguyễn Trần Bá L, sinh năm 2015
Tiền sự, tiền án: Không
Tạm giữ: ngày 21/7/2020 đến ngày 30/7/2020 được tại ngoại
Hiện bị cáo tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú
Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
1- Anh Hồ Tấn N1, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm P, phường Q, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
2- Anh Huỳnh Thành T2, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm P, phường Q, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Thoại M, Nguyễn Trung H là anh em bạn dì ruột và đều là những người nghiện ma túy.
Khoảng 10 giờ ngày 21/7/2020 một người phụ nữ tên D1 (không rõ họ tên, địa chỉ) điện thoại gặp và rủ M hùn tiền mua ma túy sử dụng, M rủ thêm H hùn tiền để mua ma túy cùng nhau sử dụng thì được H đồng ý.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, M điều khiển xe mô tô biển s 66 1-389.11 chở H đến khu vực bến phà Phường U, thành ph , tỉnh Đồng Tháp gặp D1. Tại đây, D1 đưa cho M s tiền 450.000 đồng, M đưa lại cho H cất giữ rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô chở H đến gần khu vực quán cơm R thuộc thành ph V, tỉnh Vĩnh Long gặp 01 người thanh niên tên V1 (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 bịch ma túy với giá 900.000 đồng và được V1 cho thêm 01 bịch ma túy nhỏ. Trước khi mua ma túy, M và H đã có hùn tiền xài chung do H giữ, nên M kêu H đưa cho M s tiền 900.000 đồng (trong đó có s tiền 450.000 đồng của D1 đưa cho M để mua ma túy) để M trả tiền cho V1 và nhận 02 bịch ma túy.
au đó, M để ma túy mua được vào gói thu c lá hiệu JET treo trên baga xe rồi tiếp tục điều khiển xe chở H đến thuê phòng s 05 nhà nghỉ X tọa lạc khóm P, phường Q, thành ph S. Sau khi thuê phòng xong, M điện thoại thông báo cho D1 biết địa điểm sử dụng ma túy.
Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, D1 đến phòng s 05 nhà nghỉ X gặp M và H. Tại đây D1 trích ra lấy một ít ma túy từ bịch ma túy lớn bỏ vào 01 bịch nylon rồi cất giấu trong người và bỏ đi.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, M lấy 02 bịch ma túy và một s dụng cụ ra chuẩn bị sử dụng thì bị Công an thành ph a Đ c kiểm tra phòng s 05 nhà nghỉ X bắt quả tang, thu giữ đồ vật gồm:
- 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng để trong hộp giấy đựng điện thoại di động hiệu amsung A7 màu trắng, đặt dưới mặt bàn hình vuông được niêm phong ký hiệu A1;
- 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng để trong gói thu c lá hiệu JET đặt trên mặt bàn hình vuông được niêm phong ký hiệu A2;
- 01 bình nhựa tự chế, phía trên có gắn 01 nỏ thủy tinh;
- 01 đoạn ng nhựa màu trắng;
- 01 xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe biển s 66 1-389.11, 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, bên trong có lắp sim s 0908635819 của Huỳnh Thoại M;
- 01 điện thoại di động hiệu amsung màu đen, bên trong có lắp sim s 0782975467 của Nguyễn Trung H;
- tiền 10.500.000 đồng, trong đó của Huỳnh Thoại M s tiền 5.750.000 đồng, của Nguyễn Trung H s tiền 4.750.000 đồng.
Tại kết luận giám định s 670/KL-KTHS ngày 23/7/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:
- Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A1 gửi đến giám định là chất ma túy có kh i lượng 0,329 gam, loại Methamphetamine.
- Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A2 gửi đến giám định là chất ma túy có kh i lượng 0,143 gam, loại Methamphetamine.
Tổng kh i lượng ma túy: 0,472 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng s 52/CT-VKSTP Đ ngày 29/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành ph a Đ c đã truy t các bị cáo Huỳnh Thoại M, Nguyễn Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph a Đ c trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị:
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Thoại M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền các bị cáo Huỳnh Thoại M, Nguyễn Trung H từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nh hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:
Về thủ tục t tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục t tụng của Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia t tụng không có ý kiến, kN nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan t tụng và người tiến hành t tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang được lập lúc 17 giờ ngày 21/7/2020 của Công an thành ph a Đ c, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định s 670/KL-KTHS ngày 23/7/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Qua đó đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 12 giờ ngày 21/7/2020 Huỳnh Thoại M và Nguyễn Trung H đã hùn tiền và cùng nhau đi đến thành ph V, tỉnh Vĩnh Long mua ma túy để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày tại phòng s 05 nhà nghỉ X tọa lạc khóm P, phường Q, thành ph , tỉnh Đồng Tháp, Huỳnh Thoại M và Nguyễn Trung H chuẩn bị lấy ma túy ra sử dụng thì bị Công an thành ph a Đ c kiểm tra bắt quả tang, thu giữ tổng kh i lượng 0,472 gam, loại Methamphetamine.
Theo Danh mục II ban hành kèm Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ thì Methamphetamine là một trong những chất ma túy, chất hướng thần độc hại, bị cấm sử dụng trái ph p, các chất này chỉ được sử dụng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm, trong lĩnh vực y tế và phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.
Các bị cáo đều là người đã thành niên nên có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được r ng ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, là chất độc hại. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái ph p , vì ma túy s làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe, ý chí phấn đấu của người sử dụng. Thế nhưng, do tư tưởng xấu, không biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, các bị cáo đã có hành vi hùn tiền và cùng nhau đi mua ma túy ở thành ph V, tỉnh Vĩnh Long để mang đến thành ph , tỉnh Đồng Tháp sử dụng, khoảng 17 giờ ngày 21/7/2020 tại phòng s 05 nhà nghỉ X, khi các bị cáo chuẩn bị lấy ma túy ra để sử dụng thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang các bị cáo đang tàng trữ ma túy. Vật chứng bị thu giữ của các bị cáo là chất ma túy có tổng kh i lượng 0,472 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi đó là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật, góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo phạm tội với l i c ý, động cơ mục đích phạm tội là nh m để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Thủ đoạn thực hiện tội phạm của các bị cáo là hết sức táo bạo và liều lĩnh: thời gian phạm tội là vào ban ngày, địa điểm các bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng là tại phòng s 05 nhà nghỉ X tọa lạc khóm P, phường Q, thành ph , tỉnh Đồng Tháp là nơi thường xuyên có khách ra vào thuê phòng và thường xuyên có lực lượng chức năng kiểm tra, nếu tàng trữ, sử dụng ma túy s dễ bị phát hiện và bị bắt, nhưng các bị cáo không sợ sệt, không sợ bị phát hiện. Các bị cáo vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng, chứng tỏ các bị cáo xem thường pháp luật.
3 Trong vụ án này, vai trò của từng bị cáo được thể hiện như sau:
- Bị cáo Huỳnh Thoaị M là thanh niên, đã có vợ và có con, l ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động để tạo ra của cải vật chất chăm lo cho gia đình và làm tấm gương t t cho con cái noi theo. Tuy nhiên với l i s ng thích hưởng thụ, chỉ biết s ng cho bản thân, bị cáo đã sử dụng ma túy và trở thành đ i tượng nghiện nên khi được D1 rủ hùn tiền mua ma túy sử dụng thì bị cáo liền đồng ý và sau đó còn rủ H hùn tiền mua ma túy sử dụng, bị cáo là người điều khiển xe chở H đi mua ma túy và bị cáo cũng là người liên lạc với V1 để mua ma túy rồi cùng với H đem đến thành ph , tỉnh Đồng Tháp để sử dụng. Khi các bị cáo chuẩn bị lấy ma túy ra để sử dụng tại phòng s 05 nhà nghỉ X thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang các bị cáo đang tàng trữ trái ph p chất ma túy. Từ những phân tích trên cho thấy hành vi của bị cáo đủ yếu t cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với vai trò rủ rê, thực hành tích cực.
- Bị cáo Nguyễn Trung H cũng là người đã có vợ và có con, l ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động để tạo ra của cải vật chất chăm lo cho gia đình và làm tấm gương t t cho con cái noi theo. Tuy nhiên với l i s ng thích hưởng thụ, chỉ biết s ng cho bản thân, bị cáo đã sử dụng ma túy và trở thành đ i tượng nghiện nên khi được M rủ hùn tiền mua ma túy sử dụng thì bị cáo liền đồng ý. L ra nếu là anh em t t thì khi được M rủ hùn tiền mua ma túy sử dụng thì bị cáo phải từ ch i và khuyên can M đừng sử dụng ma túy thì mới đúng, trái lại bị cáo đã đồng ý hùn tiền cùng với M mua ma túy sử dụng và cùng đi mua ma túy và với M, bị cáo là người cất giữ tiền của D1 và đưa tiền cho M mua ma túy, sau đó bị cáo là người thuê phòng trọ để sử dụng ma túy. Khi các bị cáo chuẩn bị lấy ma túy ra để sử dụng tại phòng s 05 nhà nghỉ X thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang các bị cáo đang tàng trữ trái ph p chất ma túy. Từ những phân tích trên cho thấy hành vi của bị cáo đủ yếu t cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với vai trò đồng phạm, thực hành, giúp sức tích cực.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuy n, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị ph t tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ………
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có kh i lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d)…………”
X t thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Các bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. X t thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, Hội đồng x t xử x t thấy cần xử lý nghiêm, bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân t t, tu dưỡng bản thân, có ý thức chấp hành pháp luật, nh m răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định
“5. Người ph m tội còn có th bị ph t tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhi m chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công vi c nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hội đồng x t xử x t thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đ i với các bị cáo, buộc các bị cáo nộp một khoản tiền nhất định sung quỹ Nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: X t thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, vì vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem x t giảm nh một phần mức hình phạt đ i với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng:
- Đ i với kh i lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì, 01 bình nhựa tự chế phía trên có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 đoạn ng nhựa màu trắng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và là công cụ dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đ i với xe mô tô biển s 66 1-389.11 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, bên trong có gắn sim s 0908635819 và s tiền 5.750.000 đồng của bị cáo Huỳnh Thoại M; 01 điện thoại di động hiệu amsung màu đen, bên trong có gắn sim s 0782975467 và s tiền 4.750.000 đồng của bị cáo Nguyễn Trung H cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự thành ph a Đ c đang quản lý).
Đ i với 01 U B có lưu giữ đoạn ghi âm, ghi hình khi lấy lời khai, hỏi cung các bị cáo Huỳnh Thoại M, Nguyễn Trung H cần tiếp tục quản lý để lưu hồ sơ vụ án.
Về án phí: Các bị cáo Huỳnh Thoại M, Nguyễn Trung H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đ i với người phụ nữ tên D1 (không rõ họ tên, địa chỉ) có hành vi hùn tiền mua ma túy để sử dụng cùng với các bị cáo M, H và người thanh niên tên V1 (không rõ họ tên, địa chỉ) có hành vi bán ma túy cho các bị cáo M, H, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph a Đ c tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Thoại M, Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thoại M mức án 01 năm 03 tháng tù (Một năm ba tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/7/2020 đến ngày 30/7/2020).
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung H mức án 01 năm 02 tháng tù (Một năm hai tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/7/2020 đến ngày 30/7/2020).
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
Buộc các bị cáo Huỳnh Thoại M, Nguyễn Trung H m i bị cáo nộp 5.000.000 đồng tiền phạt sung quỹ Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật T tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 02 phong bì còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ghi niêm phong các s 698/A1 và 698/A2 cùng ngày 21/7/2020 có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng E1, Hứa Văn N2, Nguyễn Quang V2, Nguyễn Trung H và Huỳnh Thoại M;
- 01 bình nhựa hiệu ting tự chế phía trên có gắn 01 ng thủy tinh được u n cong một đầu;
- 01 ng hút nhựa màu trắng.
Tiếp tục quản lý:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Future Fi màu đen – bạc, biển s 66 1-389.11 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, bên trong có gắn sim s 0908635819 và s tiền 5.750.000 đồng của bị cáo Huỳnh Thoại M;
- 01 điện thoại di động hiệu amsung màu đen, bên trong có gắn sim s 0782975467 và s tiền 4.750.000 đồng của bị cáo Nguyễn Trung H.
Để đảm bảo thi hành án.
(Hiện tiền và các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành ph a Đ c đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2020).
Tiếp tục quản lý 01 U B có lưu giữ đoạn ghi âm, ghi hình khi lấy lời khai, hỏi cung các bị cáo Huỳnh Thoại M, Nguyễn Trung H để lưu hồ sơ vụ án.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016
Các bị cáo Huỳnh Thoại M, Nguyễn Trung H m i bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b) - VK ND TP a Đ c; (2b) - Công an TP a Đ c; (6b) - Chi cục THA TP a Đ c; (1b) - ở Tư pháp; (1b) - Thi hành án phạt tù; (2b) - Những người tham gia t tụng; (2b) - Lưu VT, TP; (2b) - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bé Mười |