- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T - hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Trọng phạm T2 “Cố ý làm hư hòng tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2026/HS-ST Ngày: 28-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Kiệt;
2. Ông Thạch Văn Hòa;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Phương Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 27, 28 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 6 - Cần Thơ tiến hành mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2026; Quyết định hoãn phiên toà số: 19/2026/HSST-QĐ ngày 11 tháng 5 năm 2026 đối với:
- Bị cáo: Lê Thanh T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1992; nơi sinh: thành phố Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã L, Thành phố Cần Thơ; số căn cước: 094092015194 cấp ngày 14/8/2022; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Lê Thanh H, sinh năm 1953 và bà Trần Hồng H1, sinh năm 1955; Vợ; Con: Chưa có; Tiền án: 01 tiền án, về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (Nay là Toà án nhân dân khu vực 6 – C) xử phạt 12 tháng tù giam, đến ngày 12/12/2023 chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Không có; Về nhân thân: Vào ngày 30/9/2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Nay là xã L, thành phố Cần Thơ) xử phạt số tiền 4.000.000 đồng, về hành vi “Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”, nộp phạt xong vào ngày 01/3/2023. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/02/2026 cho đến nay. (Có mặt).
- Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1992 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ.
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Văn T1, sinh ngày 29/8/1988 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ.
+ Ông Đặng Đăng K, sinh ngày 28/8/1983 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ.
+ Bà Trần Thị H2, sinh ngày 01/01/1982 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 10/7/2025, Nguyễn Hoàng A (Hoàng A), sinh ngày 01/01/1992, cư trú ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ nhậu cùng ông Nguyễn Văn T1 (T1) tại nhà của ông T1 tại ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ. Khi đang nhậu thì T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65H1-7401 đến và vào nhậu chung cùng ông T1 và Hoàng A, trong lúc nhậu thì giữa T và Hoàng A xảy ra cự cãi với nhau, nên T điều khiển xe bỏ đi, khoảng 05 phút sau thì T quay trở lại trên tay cầm 01 cây dao đi lại chém Hoàng A, nên được ông T1 can ngăn nên không chém được Hoàng A, lúc này Hoàng A lấy xe mô tô biển số 83MF-026.89 của Hoàng A chạy đi đến nhà ông Đặng Đăng K (K), cư trú ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ, thì Hoàng A dừng xe đậu sát lề lộ đi vào nhà ông K, lúc này T cũng điều khiển xe chạy theo Hoàng A đến trước nhà ông K tìm Hoàng A để đánh, thì được ông K can ngăn nên T điều khiển xe bỏ đi, lúc này ông K và vợ là bà Trần Thị H2 (H2) thấy vậy nên đưa Hoàng A đi về nhà. Lúc này T tiếp tục điều khiển xe quay trở lại nhà ông K tìm Hoàng A để đánh thì được ông K can ngăn nên T điều khiển xe bỏ đi, khi T điều khiển xe chạy ngang chỗ xe mô tô của Hoàng A đang đậu, thấy xe của Hoàng A nên T dùng dao đang cầm trên tay chém nhiều nhát vào 02 gương chiếu hậu của xe mô tô Hoàng A làm hư hỏng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, thì ông Hoàng A đến chổ đậu xe để lấy xe về thì phát hiện xe bị T chém hư hỏng 02 gương chiếu hậu, nên đến Công an xã L, thành phố Cần Thơ trình báo sự việc.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị can Lê Thanh T quanh co không thừa nhận hành vi phạm tội.
(BL số 01; 89-103; 190-208; 246-248; 209-244).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 219/KL-HĐĐGTS ngày 18/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố C, kết luận: 01 (một) gương chiếu hậu bên phải xe mô tô, màu đen, phần kính và vỏ nhựa bị vỡ; 01 (một) gương chiếu hậu bên trái xe mô tô, màu đen, phần kính bị vỡ, có giá là 170.000 đồng (BL số 155- 157).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số 57/CT-VKSCTO-KV ngày 23/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ; Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Trọng phạm T2 “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Thanh T 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
+ Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) cây dao làm bằng kim loại, chiều dài khoảng 29cm, trong đó: lưỡi làm bằng kim loại có chiều dài 17,2 cm, chiều rộng 8,5 cm, tay cầm bằng kim loại chiều dài 11,8 cm; 01 (một) gương chiếu hậu bên phải xe mô tô, màu đen, phần kính và vỏ nhựa bị vỡ; 01 (một) gương chiếu hậu bên trái xe mô tô, màu đen, phần kính bị vỡ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hoàng A không yêu cầu bị cáo T bồi thường, khắc phục hậu quả nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa các bị cáo không thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Trong phần lời nói sau cùng bị cáo trình bày ý kiến bị cáo: Không trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
+ Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
+ Tại phiên tòa hôm nay bị hại ông Nguyễn Hoàng A, những người làm chứng ông Nguyễn Văn T1, ông Đặng Đăng K và bà Trần Thị H2 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không gây ảnh hưởng đến việc xét xử, vì trong quá trình điều tra bị hại, những người làm chứng đã cung cấp lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị hại ông Nguyễn Hoàng A, những người làm chứng ông Nguyễn Văn T1, ông Đặng Đăng K và bà Trần Thị H2.
- Về nội dung:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong quá trình điều tra thời gian đầu bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng sau đó và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Thanh T không thừa nhận có dùng dao chém vào kính xe của bị hại Nguyễn Hoàng A.
Tùy nhiên, tại biên bản ghi lời khai ngày 11/7/2025 do Công an xã L, thành phố Cần Thơ tiến hành ghi lời khai của bị cáo T và Tờ tường trình ngày 11/7/2025 của bị cáo T bị cáo T thừa nhận “Vào lúc khoản hơn 18 giờ ngày 10/7/2025 tôi có đi lại quán của ông T3 để mua mồi về nhậu thì tôi thấy có ông Nguyễn Hoàng A (tự là mâm, nhà ở ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ), ông T1 (nhà ở âp Phương Thạnh 2. xã L, thành Phố Cần Thơ), cùng với 03 người thanh niên nữa tôi không biết tên gì, nhà ở đâu nên có rủ tôi vào để nhậu cùng tôi ngồi đó nhậu đến khoảng hơn 20 giờ cùng ngày thì tôi có suy nghĩ tới chuyện ông Hoàng A lúc trước có đánh anh ruột tôi (Lê Thanh S) nên tôi có đứng lên bỏ ra lấy xe mô tù của tôi biển số 65H1-7401 điều khiển về nhà tôi để lấy 01 (một) cây dao (dùng để sinh hoạt hằng ngày), sau đó tôi tiếp tục chạy lại quán để kiểm ông Hoàng A thì tôi có dùng lời nói thô tục để chửi Hoàng A nhưng tôi không nhớ là tôi chửi gì do tôi đã say rượu bia, lúc này tôi có cầm cây dao đi tới chỗ Hoàng A dang ngồi nhậu thì tôi có đưa dao vào cổ của Hoàng A (thì Hoàng A có nói gì tôi không nhớ) nên tôi có bỏ Hoàng A ra nên Hoàng A đi ra xe và lấy xe môtô (biển số mấy tôi không biết rõ) của Hoàng A điều khiển chạy về nhà của Hoàng A nên tôi có dùng xe mô tô của tôi đuổi theo tới nhà của ông K (thuôc ấpPhương A, xã L, thành phố Cần Thơ) thì Hoàng A đậu xe lại do tôi không thấy Hoàng A đâu nên tôi có dùng cây dao tôi đang cầm trên tay tôi chém vào xe của Hoàng A làm hư hỏng 02 (hai) kính chiếu hậu xe của ông Hoàng A xong do tôi không thấy ông Hoàng A đâu nên tôi điều khiến xe tòi về nhà đến sáng ngày 11/7/2025 thì lực lượng Công an xã L đến mời”.
Trong quá trình điều tra những người làm chứng ông Đặng Đăng K , bà Trần Thị H2 đã trình bày “Bị cáo Lê Thanh T đã sử dụng hung khí đập phá gây hư hỏng xe mô tô của ông Nguyễn Hoàng A vì ông K trực tiếp nhìn thấy được bị cáo là người gây hư hỏng tài sản của bị hại Nguyễn Hoàng A, tuy trời tối không có vật che khuất tầm nhìn nhưng vẫn nhận ra được Lê Thanh T, vị trí đứng đến vị trí đứng của Lê Thanh T đập xe mô tô của Nguyễn Hoàng A là 60 mét, đường thẳng, không có vật che khuât tầm nhìn, ánh sáng đèn điện nên thấy rõ được bị cáo đã đập xe của Hoàng A”. Như vậy, lời thừa nhận tội của bị cáo tại biên bản ghi lời khai ngày 11/7/2025 và Tờ tường trình ngày 11/7/2025 của bị cáo T là phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tại liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có cơ sở để xác định: Vào lúc Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 10/7/2025 tại nhà của ông T1, bị cáo T đến và nhậu cùng với ông T1 và bị hại Hoàng A, trong lúc nhậu giữa bị cáo và bị hại Hoàng A có xảy ra cự cãi với nhau, nên bị cáo T điều khiển xe bỏ đi, khoảng 05 phút sau thì bị cáo T quay lại và cầm trên tay 01 cây dao để chém Hoàng A, nhưng được ông T1 can ngăn nên không chém được Hoàng A, sau đó Hoàng A lên xe của mình chạy đi đến nhà của ông Đặng Đăng K và dừng xe sát lộ và đi vào nhà ông K, lúc này trọng điều khiển xe chạy theo Hoàng A đến nhà ông K tìm Hoàng A để đánh thì được ông K can ngăn nên bị cáo bỏ đi, lúc này bị cáo T điều khiển xe chạy ngang chổ xe mô tô của Hoàng A đang đậu, thấy xe của Hoàng A nên T dùng dao đang cầm trên tay chém nhiều nhát vào 02 gương chiếu hậu của xe mô tô Hoàng A làm hư hỏng theo kết luận định 01 (một) gương chiếu hậu bên phải xe mô tô, màu đen, phần kính và vỏ nhựa bị vỡ; 01 (một) gương chiếu hậu bên trái xe mô tô, màu đen, phần kính bị vỡ, có giá là 170.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số 57/CT-VKSCTO-KV ngày 23/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ đã truy tố: Lê Thanh T, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo cho rằng những lời khai nhận tội của bị cáo là do cán bộ điều tra hướng dẫn bị khai là không có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thanh T là nguy hiểm, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và ý thức được rằng hành vi gây hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật bảo vệ, bản thân bị cáo có một tiền án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” chưa được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi dùng dao chém nhiều nhát vào 02 gương chiếu hậu của xe mô tô Hoàng A làm hư hỏng trực tiếp xâm phạm đến tài sản của bị hại ông Nguyễn Hoàng A theo định giá là 170.000 đồng. Cho nên, hành vi của bị cáo Lê Thanh T có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thanh T là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây mất an ninh trật tự cho người dân xung quanh. Cho nên, đối bị cáo cần phải xử nghiêm, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và góp phần phòng ngừa tội phạm, giữ ổn định an ninh trật tự cho địa phương. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có giai đoạn thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) cây dao làm bằng kim loại, chiều dài khoảng 29cm, trong đó: lưỡi làm bằng kim loại có chiều dài 17,2 cm, chiều rộng 8,5 cm, tay cầm bằng kim loại chiều dài 11,8 cm; 01 (một) gương chiếu hậu bên phải xe mô tô, màu đen, phần kính và vỏ nhựa bị vỡ; 01 (một) gương chiếu hậu bên trái xe mô tô, màu đen, phần kính bị vỡ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hoàng A không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Lê Thanh T là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 178, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đối với bị cáo Lê Thanh T.
- Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Điểm d, khoản 1 Điều 12 và Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Trọng phạm T2 “Cố ý làm hư hòng tài sản”
2. Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt đi chấp hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao làm bằng kim loại, chiều dài khoảng 29cm, trong đó: lưỡi làm bằng kim loại có chiều dài 17,2 cm, chiều rộng 8,5 cm, tay cầm bằng kim loại chiều dài 11,8 cm; 01 (một) gương chiếu hậu bên phải xe mô tô, màu đen, phần kính và vỏ nhựa bị vỡ; 01 (một) gương chiếu hậu bên trái xe mô tô, màu đen, phần kính bị vỡ.
4. Về án phí: Xử buộc bị cáo Lê Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo Bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND khu vực 6 – Cần Thơ; - CQCSĐT CA Thành phố Cần Thơ; - TAND Thành phố Cần Thơ (Phòng GĐKT, TT, THA); - VKSND Thành phố Cần Thơ; - THADS Thành phố Cần Thơ (Phòng THADS Khu vực 6 – Cần Thơ); - Trại tạm giam số 02 CA thành phố Cần Thơ - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA thành phố Cần Thơ - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thành Hữu |