vanban.org

Bản án 51/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 16/04/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/04/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Tấn L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2026/HS-ST ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ.

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Tấn L phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Lưu Tấn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lưu Tấn L - hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Tấn L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2026/HS-ST ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2026/HS-PT
Ngày: 16/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Bình

Các Thẩm phán:

Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng

Ông Võ Bảo Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 66/2026/TLPT-HS ngày 19 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Lưu Tấn L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2026/HS – ST ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lưu Tấn L, sinh ngày 11/6/1988 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: số I, đường P, phường P, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ. Con ông Lưu Tấn T (chết) và bà Lê Thị T1 (chết); có vợ là Cao Thị M, sinh năm 1993; con có 01 người, sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 10/11/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, đã chấp hành xong.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án, còn có người bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/01/2025, Lưu Tấn L đến nhà mẹ vợ là bà Quách Thị L1, tại số F, đường C, phường S, thành phố Cần Thơ để nói chuyện với bà L1. Khi đến trước cổng nhà bà L1, do có mâu thuẫn trước đó nên L chửi bà L1 nhưng không có ai trả lời và không có ai mở cửa cho L vào. Lúc này, L thấy xe mô tô biển số 83P1-886.31 của ông Quách Văn T2, sinh năm 2002, cư trú tại số G, đường T, phường S, thành phố Cần Thơ, đậu trước cửa nhà bà L1 nên L dùng chân đạp ngã xe mô tô của ông T2. Sau đó, L dùng tay bẻ bửng chắn gió của xe mô tô, giật vòi xăng xe để xe chảy xăng ra và dùng bật lửa châm lửa đốt xe mô tô của ông T2. Sau khi châm lửa đốt xe, L bỏ đi, còn ông T2 thì cùng với mọi người chạy ra dùng nước dập tắt lửa đang cháy xe mô tô biển số 83P1-886.31 và trình báo Cơ quan Công an.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐG ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu bạc trắng, biển số 83P1-886.31, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 70%, tỷ lệ hư hỏng 30% tương đương với số tiền 2.877.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, biển số 83P1-886.31, số khung RLHHC1215DY075502, số máy HC12E5075639, màu bạc – trắng – đen, đã qua sử dụng và một bật lửa bằng nhựa, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm rõ và giao trả cho ông Quách Văn P xe mô tô biển số 83P1-886.31 nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Quách Văn T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng và bị cáo L đã bồi thường xong.

Tại bản án hình sự số 11/2026/HS-ST ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Tấn L phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Lưu Tấn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 11/02/2026, bị cáo Lưu Tấn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ nào mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà nhận định:

- Về thủ tục tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét ở cấp phúc thẩm.

- Về nội dung: Bị cáo Lưu Tấn L có hành vi dùng xăng đốt xe mô tô của bị hại Quách Văn T2 được định giá thiệt hại là 2.877.000 đồng vào ngày 17/01/2025 là vi phạm pháp luật, cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Hủy hoại tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: bị cáo đã bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thiệt hại gây ra không lớn theo các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạm bị cáo 01 năm 06 tháng tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới hoặc tình tiết giảm nhẹ nào mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.

Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Vào ngày 17/01/2025, do có mâu thuẫn với mẹ vợ là bà Quách Thị L1, bị cáo Lưu Tấn L đã đến nhà chửi bà L1, nhưng bà L1 không có ở nhà, nên không gặp bà L1 và không có ai mở cửa cho bị cáo. Lúc này, bị cáo thấy xe mô tô biển số 83P1-886.31 của bị hại Quách Văn T2 đậu trước cửa. Tức giận vì không gặp được bà L1, bị cáo đã đập phá xe bị hại, sau đó mở vòi xăng để xe bị hại chảy xăng ra và dùng bật lửa đốt xe của bị hại rồi bỏ đi. Mọi người đã dùng nước dập lửa và báo cho Công an.

Tại bản kết luận giám định số 10/KL-HĐGĐ ngày 07/02/2025 kết luận: xe bị giám định là loại xe Wave Alpha màu bạc – trắng - đen đã qua sử dụng, tỷ lệ hư hỏng là 30% tương đương số tiền 2.877.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường 5.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại Quách Văn T2.

Cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự, xác định bị cáo phạt tội “Hủy hoại tài sản”, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: do bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại nên không xem xét.

Bị hại Quách Văn T2 thống nhất với Bản án sơ thẩm nên không kháng cáo.

Ngày 06/02/2026, bị cáo Lưu Tấn L kháng cáo xin giảm án.

Xét kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lưu Tấn L cũng thừa nhận hành vi phạm tội, công nhận việc dùng xăng đốt xe mô tô biển kiểm soát số 83P1-886.31 của bị hại Quách Văn T2. Cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ở giai đoạn sơ thẩm, bị cáo đã bồi thường 5.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại, thiệt hại về tài sản của bị hại được kết luận là 2.877.000 đồng là không lớn, bị cáo đã bồi thường cho bị hại, đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị hại cũng có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ cho bị cáo. Cấp sơ thẩm đã áp dụng các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là đã có xem xét cho bị cáo hưởng mức án dưới mức khởi điểm theo quy định tại khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng chưa cung cấp được chứng cứ mới hoặc những tình tiết giảm nhẹ nào mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Vì vậy, cấp phúc thẩm chưa có căn cứ chấp nhận yêu cầu bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ y án sơ thẩm là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất chấp nhận.

Vì kháng cáo của bị cáo chưa có căn cứ, chưa được cấp phúc thẩm chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Những phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Tấn L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2026/HS-ST ngày 03/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ.

2. Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Tấn L phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Tấn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt chấp hành án.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ