vanban.org

Bản án 51/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa chị Mai Thị T và anh Ngô Văn Q.

Về con chung: Giao con chung là cháu Ngô Thị Anh T1, sinh ngày 26/5/2017 cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Q. Không bên nào được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung. Án phí dân sự sơ thẩm chị Mai Thị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị T - Ngô Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Mai Thị T và anh Ngô Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 27 - 01 - 2026
V/v: Tranh chấp ly hôn, con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trọng Ích

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Mạnh Toàn

2. Bà Dương Thị Vui.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2025/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về vụ án kiện xin ly hôn và giải quyết con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2025/QĐXXST-TCDS ngày 31 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2026 giữa:

* Nguyên đơn: Chị Mai Thị T, sinh năm 1999; Địa chỉ: Xóm A, xã H, tỉnh Ninh Bình.

* Bị đơn: Anh Ngô Văn Q, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm A, xã H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa vắng mặt chị T, anh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại phiên tòa hôm nay chị Mai Thị T vắng mặt, trong đơn khởi kiện và lời khai của chị T tại các buổi làm việc với Toà án thể hiện: Chị Mai Thị T kết hôn với anh Ngô Văn Q vào 02/3/2017 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình). Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng về chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến đánh chửi nhau. Gia đình đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 3 năm 2023, trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Q không còn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn anh Ngô Văn Q.

Về con chung: Chị Mai Thị T xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Thị Anh T1, sinh ngày 26/5/2017. Kể từ khi vợ chồng ly thân cháu T1 đang sống cùng bố. Ly hôn chị T nhất trí để anh Q trực tiếp nuôi con. Chị T không đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mà việc cho con bao nhiêu là tùy vào khả năng kinh tế của chị.

Về tài sản chung: Chị Mai Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm chị Mai Thị T đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay anh Ngô Văn Q vắng mặt. Nội dung bản tự khai và các buổi làm việc với Tòa án anh Q thể hiện: Anh và chị Mai Thị T kết hôn với nhau tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình). Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng về chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2023 chị T bỏ nhà đi. Anh Q đã đi tìm và gọi điện cho chị T nhưng không liên lạc được. Nay chị T đề nghị ly hôn thì anh muốn chị T về để vợ chồng gặp mặt nói chuyện cụ thể. Nếu vợ chồng không hòa giải được thì anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Anh Q xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Thị Anh T1, sinh ngày 26/5/2017. Từ khi chị T bỏ đi chỉ có một mình anh trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con. Nay nếu vợ chồng phải ly hôn anh Q xin nhận trực tiếp nuôi cháu Anh T1; không yêu cầu chị T phải đóng góp nuôi con chung cùng anh. Về tài sản chung anh Q xác nhận vợ chồng có tài sản chung nhưng vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án cháu T1 trình bày nguyện vọng muốn ở với bố.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56; các Điều 81; 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị T, xử ly hôn giữa chị Mai Thị T và anh Ngô Văn Q; Giao cháu T1 cho anh Q chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Áp dụng Điều 147Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Anh Ngô Văn Q và chị Mai Thị T đều đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình). Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình thụ lý giải quyết vụ án chị xin ly hôn anh Q và được Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự và và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tại phiên tòa hôm nay chị Mai Thị T và anh Ngô Văn Q vắng mặt. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt chị T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh Ngô Văn Q vắng mặt, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và thông báo cho anh Q nhưng anh Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt anh Q là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Mai Thị T và anh Ngô Văn Q vào ngày 02/3/2017 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) cấp đăng ký kết hôn là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng đã có thời gian chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2023. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị T đã bỏ nhà đi từ năm 2023 và vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Q không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

Anh Q cũng có quan điểm muốn chị T về để vợ chồng nói chuyện cụ thể, nếu không hòa giải được đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập anh Q và chị T2 đến để hòa giải nhưng anh Q và chị T đều vắng mặt thể hiện anh chị đều không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, khả năng đoàn tụ là không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xin ly hôn anh Q nên chấp nhận là phù hợp.

Về con chung: Chị Mai Thị T và anh Ngô Văn Q có 01 con chung là cháu Ngô Thị Anh T1, sinh ngày 26/5/2017. Vợ chồng ly hôn anh Q xin nhận trực tiếp nuôi cháu Anh T1, không yêu cầu chị T phải đóng góp nuôi con chung cùng anh. Chị T cũng đồng ý để anh Q trực tiếp nuôi con, chị không đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xét việc thỏa thuận giải quyết nuôi con chung của anh Q và chị T thấy là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật; bản thân cháu T1 có nguyện vọng muốn ở với bố nên được chấp nhận.

Về tài sản chung vợ chồng: Chị Mai Thị T và anh Ngô Văn Q đều trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm chị Mai Thị T phải nộp theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình là phù hợp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Xử ly hôn giữa chị Mai Thị T và anh Ngô Văn Q.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Ngô Thị Anh T1, sinh ngày 26/5/2017 cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Q. Không bên nào được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.

3. Án phí dân sự sơ thẩm chị Mai Thị T phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0002065 ngày 22/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ