vanban.org

Bản án 51/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình T và đồng phạm - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MỸ HÀO
TỈNH HƯNG Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HSST.
Ngày: 24/4/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG Y

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Phan Xuân Hùng.

2- Ông Nguyễn Xuân Khải.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuỳ Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 21/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 04/4/2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 50/2025/TB-TA ngày 15/4/2025, đối với các bị cáo:

1. Phạm Đình T, sinh năm 1984 tại thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Dương Hoà, phường Minh Đức, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Phạm Đình Hoè; Họ tên mẹ: Phạm Thị Lệ; Vợ, con: Chưa có;

Tiền sự: Không;

Tiền án: - Ngày 31/01/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải D xử phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

- Ngày 15/01/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải D xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 18/02/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào (nay là thị xã Mỹ Hào), tỉnh Hưng Y xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 03 năm 03 tháng tù của bản án số 01/2019/HSST ngày 15/01/2009 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang. Buộc Thuấn phải chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 05 năm 09 tháng tù;

- Ngày 22/8/2014, bị tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào (nay là thị xã Mỹ Hào), tỉnh Hưng Y xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 11/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào (nay là thị xã Mỹ Hào), tỉnh Hưng Y xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án này xác định Thuấn phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”;

- Ngày 20/12/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải D xử phạt 28 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án này xác định Thuấn phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.

Bị cáo Phạm Đình T bị tạm giữ từ ngày 04/12/2024, tạm giam từ ngày 13/12/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Y (Có mặt tại phiên toà).

2. Phạm Văn L, sinh năm 1988 tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải D; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu Thượng, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải D; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Phạm Trung Duyền (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Loan; Vợ, con: Chưa có;

Tiền sự, tiền án: Không;

Nhân thân: - Ngày 18/05/2004 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải D Quyết định đưa vào Trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng;

- Ngày 01/8/2006, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải D quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 03 tháng;

- Ngày 13/02/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải D xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 15/01/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải D xử phạt 60 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;

- Ngày 18/02/2009, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào (nay là thị xã Mỹ Hào), tỉnh Hưng Y xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Quyết định tổng hợp hình phạt số 03/2009 ngày 15/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào buộc bị cáo phải chấp hành 09 năm 06 tháng tù;

- Ngày 17/07/2017 bị Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải D ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;

- Ngày 26/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải D xử phạt 26 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Phạm Văn L bị tạm giữ từ ngày 04/12/2024, tạm giam từ ngày 13/12/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Y (Có mặt tại phiên toà).

3. Lê Huy D, Sinh năm 1979 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải D; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Hoàng Hoà, xã Phú Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải D; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Lê Huy Sử (đã chết); Họ tên mẹ: Lương Thị Toè (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Huệ và có 02 con;

Tiền sự, tiền án: Không;

Nhân thân: Ngày 20/12/2021, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải D xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Lê Huy D bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024 đến ngày 03/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà).

* Bị hại: 1- Chị Nguyễn Thu Hằng, sinh năm 1982 (Vắng mặt).

Nơi thường trú: Số 310A1 tập thể Giảng Võ, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Nghĩa Lộ, phường Phùng Chí Kiên, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y.

2- Bà Đặng Thị Bình, sinh năm 1960 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Hiển Dương, xã Dương Quang, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1976 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Hoàng Hoà, xã Phúc Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải D.

* Người chứng kiến: 1- Ông Phạm Đình Hoè, sinh năm 1955 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố Dương Hoà, phường Minh Đức, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y.

2- Bà Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1966 (Vắng mặt). Địa chỉ: Khu Thượng, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Đình T, sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố Dương Hòa, phường Minh Đức, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y với Phạm Văn L, sinh năm 1988, trú tại khu Thượng, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải D và Lê Huy D, sinh năm 1974, trú tại thôn Hoàng Hòa, xã Phúc Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải D là chỗ quan hệ quen biết với nhau.

Khoảng 22 giờ ngày 30/11/2024, Linh gọi điện thoại rủ Thuấn đi trộm cắp tài sản, Thuấn đồng ý rồi đi bộ từ nhà ra chân cầu Sặt thuộc tổ dân phố Thịnh Vạn, phường Minh Đức, thị xã Mỹ Hào đứng chờ. Sau đó, Linh điều khiển xe mô tô biển số 99F1-322.21 đến chân cầu vượt Quán Gỏi thì nhìn thấy Thuấn, Linh đưa xe mô tô trên cho Thuấn điều khiển chở Linh đi đến phường Phùng Chí Kiên, thị xã Mỹ Hào, lúc này khoảng 02 giờ ngày 01/12/2024, cả hai phát hiện chiếc xe ba gác của chị Nguyễn Thu Hằng, sinh năm 1982, trú tại số 310A1, tập thể Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (hiện ở số 175 Phố Thứa, phường Dị Sử, thị xã Mỹ Hào) để trên vỉa hè trước cửa hàng nội thất Kim Quy ở tổ dân phố Nghĩa Lộ, phường Phùng Chí Kiên, thị xã Mỹ Hào. Thuấn đỗ xe rồi cùng với Linh đi đến vị trí của chiếc xe ba gác, mỗi người tháo một đầu sợi dây vải đang được buộc ở móc khóa cửa xếp của cửa hàng với khung xe ba gác quấn lại để vào xe ba bác. Sau đó, Thuấn điều khiển xe mô tô chở Linh ngồi sau kéo theo chiếc xe ba gác tiếp tục đi trộm cắp tài sản. Khi đi qua ngôi nhà đang xây dựng ở đường Nguyễn Bình thuộc tổ dân phố Tháp, phường Dị Sử, thị xã Mỹ Hào của gia đình bà Đặng Thị Bình, sinh năm 1960 trú tại thôn Hiển Dương, xã Dương Quang, thị xã Mỹ Hào, Thuấn đỗ xe lại còn Linh đi vào thấy trước cửa tầng 1 có 2 cánh cửa bằng khung sắt được khóa lại bằng chiếc khóa Việt Tiệp nên Linh nhặt đoạn tuýp sắt dài khoảng 50cm trước cửa, cậy phá khóa rồi đi vào. Khi vào trong nhà, Linh thấy có nhiều hộp sơn, thùng sơn để ở góc tường phía đông của tầng 1 thì bê 01 hộp cát tông bên trong đựng 04 lon sơn mang ra ngoài đưa cho Thuấn để lên xe ba gác rồi cùng với Thuấn quay vào trong nhà lần lượt bê tiếp 02 hộp cát tông đựng 08 lon sơn và 07 thùng sơn màu vàng xếp lên xe ba gác. Sau đó, Thuấn nhặt 01 tấm vải bạt dứa màu trắng xanh ở nền nhà phủ lên các thùng sơn rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Linh ngồi sau kéo xe ba gác chở sơn mang về nhà Linh cất giấu.

Khoảng 10 giờ ngày 01/12/2024, Thuấn gọi điện thoại cho Lê Huy D trao đổi mua bán sơn, Dũng đồng ý và hẹn đến nhà Dũng nên Thuấn điều khển xe mô tô chở Linh ngồi sau giữ 03 hộp cát tông đựng tổng số 12 lon sơn để giữa yên xe đến nhà Dũng. Sau khi trao đổi, Dũng biết rõ sơn là do Thuấn và Linh trộm cắp mà có nhưng vẫn mua với giá 12 lon sơn với giá 250.000đ/ 01 lon, được số tiền 2.900.000đ. Do không đủ tiền mặt trả nên Dũng vào phòng ngủ nhờ chị Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1976 (là vợ của Dũng) chuyển khoản trả Linh số tiền trên, chị Huệ đồng ý rồi chuyển khoản trả Linh 2.900.000đ. Sau đó, Thuấn điều khiển xe mô tô chở Linh về nhà Linh kéo xe ba gác chở nốt 07 thùng sơn đến bán cho Dũng với giá 700.000đ/ 01 thùng, được số tiền là 4.900.000đ và bán chiếc xe ba gác được số tiền 350.000đ. Dũng đưa trả Linh tiền xe 350.000đ, rồi đi vào trong nhà bảo chị Huệ chuyển khoản trả Linh 4.000.000đ, còn lại 900.000đ, Dũng bảo Thuấn và Linh cho nợ, xong Thuấn chở Linh đi về. Trên đường về, Linh bảo Thuấn đi vào cây ATM thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải D, tại đây Linh rút số tiền 4.000.000đ trong tài khoản rồi đưa trả Thuấn 2.000.000đ rồi đi về nhà Linh ngủ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày Linh điều khiển xe mô tô nói trên chở Thuấn đến nhà Dũng lấy nốt số tiền 900.000đ. Do không đủ tiền mặt trả cho Linh và Thuấn, cùng lúc này chị Huệ đi chơi về nên Dũng bảo chị Huệ chuyển vào tài khoản trả Linh số tiền 900.000đ. Sau khi lấy được tiền trên đường về Linh vào cây ATM thuộc huyện Bình Giang rút số tiền còn lại 3.800.000đ Linh đưa cho Thuấn 2.000.000đ, còn 1.800.000đ và 350.000đ tiền bán xe ba gác Linh cầm. Số tiền chia nhau ngày 03/12/2024 Thuấn đã mua ma túy ở khu vực thị trấn Kẻ Sặt mang về tổ dân phố Dương Hòa, phường Minh Đức sử dụng. Còn Linh mua ma túy ở thành phố Hải D mang về huyện Bình Giang, tỉnh Hải D sử dụng.

Ngày 03/12/2024 bà Đặng Thị Bình có đơn trình báo Công an phường Dị Sử và giao nộp một hóa đơn bà mua sơn. Ngày 06/12/2024 chị Nguyễn Thu Hằng có đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mỹ Hào.

Ngày 04/12/2024, Phạm Đình T và Phạm Văn L đến đầu thú tại Công an thị xã Mỹ Hào và khai nhận hành vi trộm cắp sơn của gia đình bà Bình và trộm cắp chiếc xe ba gác của gia đình chị Hằng, mang bán cho Lê Huy D. Thuấn tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 2021 vỏ máy màu xám đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại. Còn Linh tự nguyện giao nộp 01 chiếc ví giả da màu nâu, bên trong có số tiền 1.970.000đ, 01 giấy phép lái xe mô tô và 01 thẻ ngân hàng Vietcombank đều mang tên Phạm Văn L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 vỏ máy màu đen bên trong lắp 01 sim điện thoại và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX sơn màu đỏ đen biển số 99F1-322.21. Còn đoạn sắt Linh dùng để phá khóa và chiếc khóa Việt Tiệp, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không quản lý được.

Ngày 04/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mỹ Hào tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn L ở số nhà 26 ngõ Phương Chính, khu Thượng, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải D và chỗ ở ở Phạm Đình T ở tổ dân phố Dương Hòa, phường Minh Đức, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Y, kết quả: Đều không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Cùng ngày 04/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mỹ Hào tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Huy D ở thôn Hoàng Hòa, xã Phúc Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải D, kết quả thu giữ: Tại gầm cầu thang tầng một nhà ở thu giữ 07 thùng sơn bằng nhựa màu vàng, nhãn hiệu “NANO HG9” khối lượng 22kg/ 01 thùng; 03 hộp bìa catton, bên trong thùng cattong có 04 hộp sơn bằng kim loại, hình tròn vỏ ngoài có chữ “NANO HG9” khối lượng 05kg/ 01 lon; Tại góc trong phòng khách 01 cân đồng hồ, loại cân 100kg. Tại khu vực vườn hướng từ cổng đi vào trong nhà thu giữ 01 chiếc xe ba gác có chiều dài 2,7m, chiều rộng 1,2m, được hàn bằng các đoạn kim loại kích thước khác nhau, có 02 bánh bằng lốp cao su có đường kính bánh xe (cả lốp là 60cm, đường kính vành xe là 49cm). Chiếc xe có khối lượng 55kg. Trên xe có 01 đoạn dây vải màu trắng dài 3,1m, 01 đoạn dây vải màu xanh dài 3,3m và 01 chiếc bạt bằng vải dứa màu trắng xanh kích thước (5,1x3,1)m, bạt bị mục rách ở nhiều vị trí khác nhau.

Quá trình điều tra Lê Huy D đã trốn ra Hà Nội, đến ngày 28/12/2024 Dũng đến Công an thị xã Mỹ Hào đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra Dũng còn khai trong thời gian bỏ trốn Dũng không vi phạm, còn chiếc điện thoại di động Dũng không nhớ nhãn hiệu gì sử dụng để liên hệ mua bán sơn với Thuấn đã bị rơi nên không quản lý được.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành trích sao dữ liệu camera tại gia đình chị Phạm Thị Thành, sinh năm 1983 ở tổ dân phố Tháp, phường Dị Sử, thị xã Mỹ Hào ghi lại hình ảnh Phạm Đình T và Phạm Văn L thực hiện hành vi trộm cắp sơn của nhà bà Bình (được niêm phong ghi ký hiệu “U2”, “B2”, “C2”).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐ ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã Mỹ Hào kết luận: 07 thùng sơn lót kháng kiềm nhãn hiệu “Nano HG9” trị giá là 14.000.000đ; 03 hộp bìa cát tông bên trong chứa 12 lon sơn loại sơn “Nano HG9” là 27.000.000đ. Tổng giá trị tài sản là: 41.000.000đ; 01 xe ba gác trị giá là 550.000đ. Còn 01 chiếc khóa loại khóa Việt tiệp; 01 đoạn dây vải màu trắng dài 3,1m; 01 đoạn dây vải màu xanh dài 3,3m; 01 chiếc bạt bằng dứa màu xanh, kích thước (5,1 x 3,1)m, do thông tin liên quan đến tài sản không đầy đủ nên Hội đồng định giá không định giá.

Tại Bản kết luận giám định số 45/KL- KTHS (KTS) ngày 14/02/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công tỉnh Hưng Y kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video trong mẫu niêm phong ký hiệu “B2”, “C2”; không xác định được video trong mẫu “U2” có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh hay không do hình ảnh bị gián đoạn ở nhiều thời điểm. Mẫu hoàn lại được niêm phong, lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Về xử lý vật chứng: Ngày 16/12/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thu Hằng chiếc xe ba gác và 03 đoạn dây vải; Trả lại cho bà Nguyễn Thị Bình 03 hộp cát tông bên trong hộp cát tổng có 12 lon sơn; 07 thùng sơn và 01 chiếc bạt dứa. Chị Hằng, bà Bình nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì. Bà Bình không yêu cầu thiệt hại đoạn sắt và chiếc khóa Việt Tiệp.

Đối với chiếc xe biển số 99F1-332.21 quản lý của Linh, Linh khai mượn của một người đàn ông không rõ họ tên đệm, địa chỉ tên là Long ở Bắc Ninh. Tiến hành kiểm tra phát hiện số khung, số máy có dấu hiệu bị đục, chà sát. Còn chiếc biển số 99F1-332.21, quá trình điều tra xác định chủ đăng ký là anh Nguyễn Toàn Thắng, sinh năm 1970, trú tại thôn Ngọc Nội, xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của anh Thắng, anh Thắng xác định có sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision đăng ký biển số 99F1-332.21. Khoảng tháng 9/2024 anh Thắng bị rơi mất biển số xe nên anh Thăng đã đăng ký làm lại biển mới.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số khung, số máy và biển số 99F1-332.21. Bản kết luận giám định số 45/KL- KTHS ngày 17/02/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Y kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu đỏ - đen, đeo BKS: 99F1-322.21 có hàng số khung, số máy bị mài phá, không xác định được số nguyên thủy. Không đủ cơ sở kết luận giám định BKS 99F1-322.21 có phải là biển kiểm soát thật hay không do không có mẫu so sánh. Hiện 01 chiếc ví giả da màu nâu, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe và 01 thẻ ngân hàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu đen, bên trong lắp 01 sim, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Readme C11 2021 màu xám đen, bên trong lắp 01 sim quản lý của Linh (đều mang tên Nguyễn Văn Linh); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 2021 vỏ máy màu xám đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại quản lý của Thuấn và chiếc cân đồng hồ thu giữ tại nhà Dũng đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào. Còn chiếc xe mô tô nói trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an thị xã Mỹ Hào; Số tiền 1.970.000đ quản lý của Linh hiện đang được gửi ở tài khoản tạm gửi của Kho bạc nhà nước Mỹ Hào. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô, điện thoại, số tiền 1.970.000đ quản lý của Linh, điện thoại quản lý của Thuấn và chiếc cân đồng hồ thu giữ nhà Dũng đều liên quan đến việc thực hiện tội phạm. Linh đề nghị xin lại chiếc ví, căn cước công dân, giấy phép lái xe mô tô và thẻ ngân hàng để sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Đặng Thị Bình và chị Nguyễn Thu Hằng đều xác định không yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường.

Quá trình điều tra các bị can đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của các bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSMH ngày 21/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Phạm Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Lê Huy D về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay: Vắng mặt các bị hại; Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Vắng mặt tất cả người chứng kiến.

Các bị cáo Phạm Đình T, Phạm Văn L, Lê Huy D và Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vì những người vắng mặt đều đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

Các bị cáo Phạm Đình T, Phạm Văn L, Lê Huy D đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào duy trì công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo Phạm Đình T, Phạm Văn L, Lê Huy D và đề nghị với Hội đồng xét xử:

* Căn cứ vào:

- Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Đình T;

- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn L;

- Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Huy D;

* Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Đình T và Phạm Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản"; Bị cáo Lê Huy D phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có’".

* Xử phạt:

1- Bị cáo Phạm Đình T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/12/2024.

2- Bị cáo Phạm Văn L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/12/2024.

3- Bị cáo Lê Huy D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, được trừ đi 06 (sáu) ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47; điểm a, b, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 ví giả da màu nâu, 01 sim lắp bên trong điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A54 màu đen; 01 sim lắp bên trong điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C11 2021.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A54 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C11 2021 và số tiền 1.970.000đ hiện đang được gửi tại Kho bạc Nhà nước Mỹ Hào;

- Trả lại chị Nguyễn Thị Huệ 01 cân đồng hồ màu xanh, loại 100kg.

- Trả lại bị cáo Phạm Văn L 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe và 01 thẻ ngân hàng đều mang tên bị cáo Linh.

- Truy thu số tiền 6.180.000đ (trong đó truy thu của bị cáo Thuấn 4.000.000đ, truy thu của bị cáo Linh 2.180.000đ) là số tiền do các bị cáo phạm tội mà có.

(Tất cả theo quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSMH ngày 21/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào).

* Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường nên không đặt ra để giải quyết.

* Các bị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mỹ Hào, Điều tra viên, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.

2- Lời khai nhận của các bị cáo Phạm Đình T, Phạm Văn L và Lê Huy D trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: Với động cơ, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu sài. Khoảng 02 giờ ngày 01/12/2024 tại tổ dân phố Nghĩa Lộ, phường Phùng Chí Kiên và tổ dân phố Tháp, phường Dị Sử đều thuộc thị xã Mỹ Hào. Phạm Văn L và Phạm Đình T đã trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thu Hằng và bà Đặng Thị Bình có tổng giá trị là: 41.550.000đ, trong đó tài sản của chị Nguyễn Thu Hằng là 550.000đ, bà Đặng Thị Bình là 41.000.000đ. Sau khi trộm cắp được tài sản Phạm Văn L và Phạm Đình T đã bán cho Lê Huy D, Dũng biết rõ tài sản trên là do Linh và Thuấn trộm cắp mà có nhưng vẫn mua với tổng số tiền: 8.150.000đ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố: Bị cáo Phạm Đình T về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Lê Huy D về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

3- Hội đồng xét xử xác định: Trong vụ án này, có đồng phạm cùng tham gia, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Xét vai trò đồng phạm trong vụ án thì thấy: Đối với hành vi trộm cắp tài sản Phạm Văn L là người khởi xướng thực hiện hành vi phạm tội, chủ động chuẩn bị phương tiện, chủ động liên hệ với bị cáo Phạm Đình T để thực hiện tội phạm, bị cáo cũng là người trực tiếp thực hiện toàn bộ các hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại nên hai bị cáo là đồng phạm của nhau nhưng vai trò chính và đầu vụ là bị cáo Phạm Văn L còn Phạm Đình T là đồng phạm với vai trò là người thực hiện hành vi giúp sức tích cực, cùng với bị cáo Linh trực tiếp thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản với tổng số tiền 8.150.000đ như đã nêu trên nên đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định của Bộ luật hình sự; Ngoài ra, đối với Thuấn: Lần gần nhất bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải D xử phạt 28 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đến nay bị cáo chưa được xóa án tích, Thuấn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo Thuấn phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 và tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của của Bộ luật hình sự. Đối với Phạm Văn L, mặc dù bị cáo là người khởi xướng hành vi phạm tội, tuy nhiên bị cáo đã được xoá án tích nên bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Còn đối với bị cáo Dũng, biết bị cáo Thuấn và Linh không có công ăn việc làm ổn định và những tài sản mang tới nhà mình là do Thuấn và Linh trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua nên Dũng đã phạm tội độc lập về hành vi "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" trong vụ án này.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên buộc phải nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Các bị cáo Thuấn và Linh đã không chịu lao động, rèn luyện, thay vào đó là đi chiếm đoạt tài sản của người khác với mục đích tư lợi cá nhân, còn bị cáo Dũng do hám lợi, biết rõ tài sản do Thuấn và Linh phạm tội mà có nhưng vẫn mua để bán kiếm lời. Hành vi của các bị cáo đã gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an ninh tại địa phương.

Xét đề xuất của đại diện Viện kiểm sát và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Bị cáo Thuấn và bị cáo Linh đều có nhân thân rất xấu, đã bị nhiều cơ quan xử lý hành chính về nhiều hành vi khác nhau, nhiều lần bị nhiều Toà án xét xử đều về các tội xâm phạm về sở hữu. Còn đối với bị cáo Dũng cũng có nhân thân xấu, đã bị Toà án xét xử về tội "Trộm cắp tài sản" nhưng cho hưởng án treo, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm xâm phạm về sở hữu khác. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Đình T ngoài tình tiết định khung tăng nặng là "Tái phạm nguy hiểm" ra thì bị cáo còn phải chịu một tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Hai bị cáo còn lại là Phạm Văn L và Lê Huy D đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Cả 03 bị cáo đều thành khẩn khai báo, đều ra đầu thú. Bị cáo Linh có ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

4- Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên toà có đủ căn cứ xác định các bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử sẽ miễn, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

5- Về vật chứng:

- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave RSX và chiếc biển số 99F1-322.21 mà bị cáo Linh và Thuấn sử dụng vào việc phạm tội, hiện đang được quản lý tại kho vật chứng của Công an thị xã Mỹ Hào, cơ quan điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp do chiếc xe này đã bị đục, tẩy số khung số máy nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cho cơ quan điều tra Công an thị xã Mỹ Hào xác minh, làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 ví giả da màu nâu thu giữ của bị cáo Linh, tại phiên toà bị cáo không có nhu cầu nhận lại, còn đối với 01 sim lắp bên trong điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A54 màu đen; 01 sim lắp bên trong điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C11 2021 các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Nay không còn giá trị sử dụng sẽ cho tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A54 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C11 2021 thu của Thuấn, các bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 1.970.000đ do phạm tội mà có hiện đang được gửi giữ tại Kho bạc Nhà nước thị xã Mỹ Hào sẽ cho tịch thu sung quỹ nhà nước;

- Đối với 01 cân đồng hồ màu xanh, loại 100kg là tài sản của chị Nguyễn Thị Huệ, bị cáo Dũng đã dùng để cân tài sản do phạm tội mà có, chị Huệ không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ trả lại cho chị Huệ chiếc cân này theo quy định.

- Đối với số tiền 6.180.000đ do các bị cáo Phạm Văn L và Phạm Đình T phạm tội mà có nên sẽ cho truy thu số tiền này để sung quỹ nhà nước (trong đó truy thu của bị cáo Thuấn 4.000.000đ, truy thu của bị cáo Linh 2.180.000đ).

- Đối với 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe và 01 thẻ ngân hàng đều mang tên bị cáo Linh không liên quan đến tội phạm nên sẽ trả lại bị cáo Phạm Văn L các giấy tờ và thẻ ngân hàng này theo quy định.

(Tất cả theo quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSMH ngày 21/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào).

6- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại bà Đặng Thị Bình và chị Nguyễn Thu Hằng đều đã được nhận lại tài sản, không có ý kiến đề nghị gì nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

7- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào:

- Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Đình T;

- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn L;

- Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Huy D;

* Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Đình T và Phạm Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản"; Bị cáo Lê Huy D phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có’".

* Xử phạt:

1- Bị cáo Phạm Đình T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/12/2024.

2- Bị cáo Phạm Văn L 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/12/2024.

3- Bị cáo Lê Huy D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, được trừ đi 06 (sáu) ngày bị cáo đã bị tạm giữ. Bị cáo còn phải thi hành 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng 24 (Hai mươi bốn) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47; điểm a, b, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) ví giả da màu nâu, 01 (Một) sim lắp bên trong điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A54 màu đen; 01 (Một) sim lắp bên trong điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C11 2021.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A54 màu đen; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại C11 2021 và số tiền 1.970.000đ (Một triệu, chín trăm bảy mươi nghìn đồng);

- Trả lại chị Nguyễn Thị Huệ 01 (Một) cân đồng hồ màu xanh, loại 100kg.

- Trả lại bị cáo Phạm Văn L 01 (Một) căn cước công dân, 01 (Một) giấy phép lái xe và 01 (Một) thẻ ngân hàng đều mang tên bị cáo Linh.

- Truy thu số tiền 6.180.000đ (Sáu triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng); (Trong đó truy thu của bị cáo Thuấn 4.000.000đ, truy thu của bị cáo Linh 2.180.000đ).

(Tất cả theo quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSMH ngày 21/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Cồng an tỉnh Hưng Y với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào).

* Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phạm Đình T, Phạm Văn L và Lê Huy D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ