- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2025/HSST Ngày 05 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH VĨNH PHÚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Song Lưu
Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Tám và ông Nguyễn Duy Thuần
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2025/ TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025, đối với:
Bị cáo Vũ Văn T, sinh ngày 10/02/1985; nơi sinh và cư trú: tổ dân phố 1, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; Đảng, Đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Minh Q (đã chết) và bà Luyện Thị Đ; vợ Lò Thị N (đã ly hôn) và có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: 01. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2023/HSST ngày 31/5/2023 Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 17 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2024, chấp hành xong án phí ngày 24/3/2023, chưa được xóa án tích. Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2003/HSST ngày 21/3/2003 Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2004, ngày 21/4/2010 chấp hành xong án phí, đã được xóa án tích. Tại Bản án số 253/2008/HSST ngày 31/12/2008 Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/2011, chấp hành xong án phí ngày 21/4/2010, đã được xóa án tích. Ngày 25/5/2007, bị UBND huyện S, tỉnh Sơn La đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 299/QĐ-UBND, đã chấp hành xong và được xóa tiền sự; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2024, hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, tại đoạn tỉnh lộ 303 thuộc thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: Tại lòng bàn tay trái của T 01 túi nilon màu trắng, bên trong đựng 01 gói nhỏ bọc giấy bạc, trong cùng đựng chất cục bột màu trắng, T khai nhận là ma tuý loại heroine, T tàng trữ mục đích sử dụng, niêm phong ký hiệu A1.
Quá trình điều tra, Vũ Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 ngày 30/12/2024, T đang ở xã Th, huyện M, thành phố Hà Nội thì gặp H (T không biết cụ thể họ, tên, địa chỉ của H). H rủ T đi mua ma túy loại heroin để cùng sử dụng, T đồng ý. H điều khiển xe mô tô Wave màu đen (không rõ biển kiểm soát) chở T đến xã N, huyện Y tìm mua ma túy. Đến nơi, H dừng xe ở một ngõ nhỏ (không rõ địa chỉ) bảo T xuống xe đợi H đi mua ma túy. Khoảng 10 phút sau, H quay lại nói đã mua được ma túy và đưa T 01 gói nilon bên trong có gói ma túy loại heroine. T cầm gói ma túy bên tay trái, rồi ngồi sau xe H để tìm nơi sử dụng. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, khi H, T đi đến đoạn tỉnh lộ 303 thuộc thôn Đ, xã N, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, bắt quả tang Vũ Văn T đang tàng trữ trái phép chất ma túy. H phóng xe bỏ chạy.
Tại Bản kết luận giám định số 3826/KL-KTHS ngày 03/01/2025 phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại heroine, tổng khối lượng 0,1939g (không phảy hai một bảy bảy gam, không kể bao bì).
Tại Cáo trạng số: 53/CT-VKSYL ngày 15 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Vũ Văn T, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Vũ Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, phạt: Vũ Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng, án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng, thể hiện như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, tại đoạn tỉnh lộ 303, thuộc thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang Vũ Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1939gam ma tuý loại heroine.
. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý,... thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c. Heroine, … có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam;”
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử tội phạm về ma túy, tội trộm cắp tài sản, bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, hiện nay đang có tiền án về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do vậy cần thiết phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có tài sản, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đối với đối tượng tên H đã rủ T đi mua ma túy, do T không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh và không đề cập xử lý.
. Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật A1 = 0,1630 gam heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 30/12/2024.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật gồm: A1 = 0,1630 gam heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/5/2025)
4. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Y; - Chi cục THADS huyện Y; - Bị cáo; - Lưu VP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Song Lưu |