- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thế A, Bùi Tuấn A1 - Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2025/HS-ST Ngày: 31 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thiện Lợi và ông Trần Minh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Trần Thế A, sinh ngày 03/4/1990 tại Thái Bình;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã Đ, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: số nhà 43C, ngõ 100, đường G, tổ 03, phường B, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Anh D và bà Hà Thị U; Có vợ là Bùi Thị Mỹ C và có 01 con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/01/2025 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố Thái Bình
- Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; Được trích xuất có mặt tại phiên toà.
2. Bị cáo Bùi Tuấn A1, sinh ngày 06/7/2002 tại Thái Bình;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 02, phường I, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: số nhà 43C, ngõ 100, đường G, tổ 03, phường B, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Bùi Hồng T1 và bà Đặng Thị P; Có vợ là Nguyễn Thị Hồng T2 và có 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/01/2025 đến ngày 05/3/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh đến nay; Có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Chị Đỗ Thị Hà M, sinh năm 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 06, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện tại: Số nhà 06/03, ngõ 159, đường Y, tổ 04, phường PK, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Chị Trần Thu H, sinh năm 1995; Trú tại: Số nhà 331, đường Đ1, tổ 8, phường Đ2, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
- Chị Đỗ Thị Thu T, sinh năm 1986; Trú tại: Số nhà 62/9, tổ 11, phường Q, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
- Chị Vũ Thị Vân A2, sinh năm 1990; Trú tại: Tổ 09, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 05 năm 2021, Trần Thế A làm bảo vệ tại Bệnh viện Nhi Thái Bình. Trong quá trình làm việc, Thế A nảy sinh ý định lắp camera tại phòng vệ sinh tầng 2, tòa nhà D, Bệnh viện Nhi Thái Bình để ghi lại video cán bộ nữ của bệnh viện tắm hoặc thay quần áo để xem. Thế A đặt mua trên mạng của một người không biết tên, địa chỉ 01 bộ camera dạng cúc áo (gồm mắt camera, 01 pin dự phòng, 01 thẻ nhớ) giá 1.000.000 đồng. Sau đó, Thế A tìm một vỏ chai nhựa màu đen đục 01 lỗ vừa với mắt camera, lắp camera cùng pin vào bên trong rồi vặn nắp lại. Hàng ngày, chiều tối Thế A cầm thiết bị đặt ở góc tường dưới nền nhà vệ sinh, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì lấy camera mang về phòng thay đồ của Thế A ở Bệnh viện kiểm tra thẻ nhớ. Nếu quay được clip nào thì sẽ kết nối thẻ nhớ với máy vi tính để bàn màu đen, màn hình loại 27 inch (nhãn hiệu Samsung) coppy ra 01 USB màu đỏ, nhãn hiệu Kington loại 16GB lưu lại, rồi tiếp tục lắp thẻ nhớ vào camera như cũ. Với cách thức trên, Thế A đã thu được nhiều clip của 15 nhân viên bệnh viện Nhi Thái Bình tắm, trong đó có clip chị Đỗ Thị Hà M tắm vào tối ngày 21/09/2021. Thế A lưu các clip trong USB trên và đặt tên file theo tên của từng nhân viên trong Bệnh viện cho dễ nhớ. Sau đó Thế A hủy camera và chiếc vỏ chai nhựa. Thỉnh thoảng Thế A xem các clip, không phát tán, chia sẻ các clip trên cho ai. Khoảng cuối tháng 5/2024, Thế A coppy toàn bộ các clip đã lưu trong USB trên ra 01 ổ cứng nhãn hiệu HP S700 2.5 loại 250GB, vỏ màu đen. Đến tháng 06/2024 Thế A nghỉ việc tại Bệnh viện nhi Thái Bình.
Thời gian đầu năm 2025 do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Thế A nảy sinh ý định sẽ gửi một số clip quay được của những nhân viên Bệnh viện nhi Thái Bình trên cho họ để đe dọa họ lấy tiền. Khoảng giữa tháng 01/2025 Thế A bàn với Bùi Tuấn A1 (ở cùng nhà với Thế A) nhắn tin gửi các clip Thế A quay được trên qua zalo cho các nhân viên bệnh viện Nhi Thái Bình để lấy tiền do Thế A có số điện thoại của những người này. Tuấn A1 đồng ý, cả hai thống nhất số tiền chiếm đoạt được thì sẽ chia đôi mỗi người một nửa. Chiều ngày 23/01/2025, Thế A sử dụng số điện thoại 0587459301 lập tài khoản zalo tên “Nguyễn Tài Em” và đăng nhập Zalo trên chiếc máy tính của Thế A để ở nhà và trên chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel, vỏ màu vàng. Sáng ngày 24/01/2025, Thế A dùng tài khoản zalo “Nguyễn Tài Em” gửi đến tài khoản Zalo “Hà M” của chị M ảnh chị M tắm chụp từ clip. Do không thấy chị M trả lời nên Thế A bảo Tuấn A1 nhắn tin từ số điện thoại 0587459301 đến số điện thoại 0969552146 của chị M yêu cầu kiểm tra tin nhắn chờ zalo. Khi chị M đọc tin nhắn đã nhắn tin lại. Thế A chỉ đạo Tuấn A1 nhắn tin nội dung muốn xóa clip thì phải chụp lại đồng thời Thế A kết nối chiếc ổ cứng có chứa các clip với máy vi tính và gửi từ Zalo đăng nhập trên máy tính 01 clip chị M đang tắm để tiếp tục đe dọa chị M. Khi bị đe dọa như vậy, chị M sợ hãi và nhắn tin lại trao đổi, Thế A và Tuấn A1 nhắn tin yêu cầu chị M phải chuyển 20.000.000 đồng thì sẽ xóa, không phát tán các clip, chị M đồng ý.
Thế A trao đổi với Tuấn A1 phải lập 01 tài khoản game để yêu cầu chị M nạp tiền vào đó để tránh việc phát hiện, sau đó mới rút về. Tuấn A1 đồng ý, đăng nhập vào game đánh bạc "Sun.win" và tạo tài khoản có tên "Tuantx2998", mật khẩu "15Mkm@" vào phần nạp thẻ điền số tiền 20.000.000 đồng thì ứng dụng game hiện lên mã QR tài khoản ngân hàng MBBank số 0345722850 mang tên Huỳnh Công Chánh. Tuấn A1 chụp ảnh màn hình mã QR trên rồi gửi qua Zalo cho chị M để yêu cầu chị M chuyển tiền. Do chị M không có tiền chuyển vào tài khoản nên Tuấn A1 lại đăng nhập vào ứng dụng game trên và thao tác để lấy tài khoản ngân hàng khác. Ứng dụng game hiện lên mã QR tài khoản ngân hàng Vietinbank số 107882714507 mang tên Đinh Văn Bảo Hưng, Tuấn A1 chụp ảnh màn hình gửi cho chị M nhưng chị M không có tiền để chuyển vào. Do nghĩ chị M không có đủ tiền nên Thế A vào ứng dụng game đánh bạc "EE88" và tạo tài khoản có tên “picses272” đăng ký bằng số điện thoại 0986980033, mật khẩu Thế A không nhớ. Thế A vào mục nạp tiền, tạo số tiền cần nạp là 10.000.000 đồng thì ứng dụng game hiện lên mã QR tài khoản ngân hàng BIDV số 8873923233 mang tên mang tên MAI THI CHUC LY, Thế A chụp ảnh màn hình rồi gửi qua Zalo cho Tuấn A1, Tuấn A1 chuyển tiếp tin nhắn đến Zalo của chị M yêu cầu chị M chuyển tiền vào tài khoản, tuy nhiên chị M nói tài khoản của mình đang lỗi, nhờ người khác chuyển tiền nhưng thực tế My không còn tiền để chuyển. Do quá sợ hãi, chị M đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình trình báo sự việc. Sau khi bị triệu tập lên làm việc Tuấn A1 và Thế A đã thừa nhận hành vi trên.
Bản Cáo trạng số: 58/CT-VKSTPTB ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Phạm Thế A và Bùi Tuấn A1 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản".
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50 (Điều 65 đối với Bùi Tuấn A1) Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thế A mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2025; xử phạt bị cáo Bùi Tuấn A1 mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/3/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc các bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại về tinh thần cho chị Đỗ Thị Hà M số tiền 5.000.000 đồng các bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình. Ngoài ra còn đề nghị giải quyết về xử lý vật chứng và án phí.
Các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị hại không có ý kiến tranh luận, chấp nhận việc các bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo là chứng cứ buộc tội lẫn nhau và phù hợp với Đơn trình báo, lời khai của bị hại; lời khai của người làm chứng; Biên bản, sơ đồ và bàn ảnh xác định hiện trường do Công an thành phố Thái Bình lập ngày 25/01/2025; Biên bản xác nhận tài liệu thể hiện nội dung tin nhắn SMS, các cuộc gọi giữa số điện thoại 0969552146 của chị M với số điện thoại 058745930, nội dung tin nhắn giữa tài khoản Zalo “Hà My” với tài khoản Zalo “Nguyễn Tài Em”; Biên bản kiểm tra giữ liệu điện thoại quản lý của Trần Thế A, Bùi Tuấn A1; Tài liệu thể hiện nội dung tin nhắn Zalo giữa Trần Thế A và Bùi Tuấn A1; Tài liệu thể hiện nội dung tin nhắn game Trần Thế A, Bùi Tuấn A1 lập để tạo mã QR nhằm thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản; Kết luận giám định số 113/KL-KTHS ngày 17/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/01/2025, Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 gọi điện, nhắn tin, gửi clip chị Đỗ Thị Hà M đang tắm tại nhà vệ sinh tầng 2, khu D của Bệnh viện nhi Thái Bình để đe dọa, uy hiếp về tinh thần làm chị M lo sợ nhằm mục đích chiếm đoạt 20.000.000 đồng. Do chị M không có tiền nên chưa kịp chuyển tiền cho Thế A và Tuấn A1. Hành vi trên của Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 đủ yếu tố cấu thành tội "Cưỡng đoạt tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản - Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”
Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, cũng như danh dự nhân phẩm của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.
Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo thực hiện tội phạm có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Trần Thế A là người thực hiện hành vi phạm tội tích cực hơn, chuẩn bị công cụ, quay và lưu trữ các clip. Khi nảy sinh ý định gửi một số clip đã quay lén cho bị hại để đe dọa họ lấy tiền, Trần Thế A là người lập tài khoản Zalo, chuẩn bị sim điện thoại, gửi clip cho bị hại để đe doạ, rủ rê và chỉ đạo Bùi Tuấn A1 cùng thực hiện hành vi phạm tội để cùng hưởng lợi, do đó Trần Thế A có vai trò cao hơn trong vụ án. Bùi Tuấn A1 khi được Trần Thế A rủ rê, do hám lợi nên Tuấn A1 đã đồng ý, thực hiện chỉ đạo của Thế A nhắn tin đe doạ, lập tài khoản game, gửi mã QR cho bị hại để yêu cầu bị hại chuyển tiền nên là có vai trò thứ hai trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo Trần Thế A ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo Bùi Tuấn A1 chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo Tuấn A1 hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự của xã hội nên xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo không có thu nhập. Tại phiên toà bị cáo Bùi Tuấn A1 trình bày hiện nay đã về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ và cũng là nơi đang ký hộ khẩu thường trú của bị cáo ở tổ 2, phường I, thành phố Thái Bình, vì vậy cần giao cho UBND phường I quản lý, giáo dục bị cáo Bùi Tuấn A1 trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Tuấn A1 đã nộp 3.000.000 đồng; gia đình bị cáo Trần Thế A đã tự nguyện thay bị cáo nộp 2.000.000 đồng tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại là chị Đỗ Thị Hà M tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 12/03/2025. Bị hại đồng ý việc các bị cáo bồi thường số tiền nêu trên, nên cần chấp nhận sự tự nguyện này của các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 ổ cứng nhãn hiệu HP Solid State Drive, màu đen thu giữ của Trần Thế A và 01 USB nhãn hiệu Kingston DataTraveler 100G3, vỏ màu đen hoàn trả sau giám định phong bì niêm phong trong có số 113/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G, vỏ màu hồng bạc; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel Hapi 30, vỏ màu vàng; 01 cây máy tính vỏ màu đen, trên cây máy tính có in dòng chữ màu trắng “C00LERPLUS”; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung, màu đen, đã qua sử dụng; 01 bàn phím máy tính màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chuột máy tính màu đen quản lý, thu giữ của Trần Thế A; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, vỏ màu vàng quản lý của Bùi Tuấn A1 là công cụ phạm tội của các bị cáo nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi Trần Thế A gửi tin nhắn hình ảnh các chị Trần Thu H, Đỗ Thị Thu T3, Vũ Thị Vân A2 tắm tại phòng vệ sinh, tầng 2, tòa nhà D, Bệnh viện Nhi Thái Bình nhằm mục đích đe dọa uy hiếp về tinh thần để chiếm đoạt tiền, nhưng chưa yêu cầu số tiền cụ thể. Chị H, T3 và Vân A2 không trả lời tin nhắn và đã xóa hết tin nhắn mà Trần Thế A gửi. Vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình không đủ căn cứ để xử lý đối với Trần Thế A về hành vi này.
Đối với các tài khoản game đánh bạc mà Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 lập, qua kiểm tra lịch sử giao dịch không có dữ liệu gì nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình không có căn cứ để xử lý. Đối với hành vi Trần Thế A đặt camera quay lén các nữ nhân viên bệnh viện Nhi Thái Bình tắm, thay quần áo là hành vi “Thu thập thông tin cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó” vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 84 Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Đối với hành vi Thế A gửi hình ảnh chụp từ clip tắm cho các chị Trần Thu H; Đỗ Thị Thu T3; Vũ Thị Vân A2 không đủ yếu tố cấu thành tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy nhưng đã vi phạm quy định về “Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc” theo điểm b khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình kiến nghị Công an tỉnh Thái Bình xử lý hành chính đối với Trần Thế A về các hành vi trên.
Về án phí: Các bị cáo Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thế A và Bùi Tuấn A1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Thế A 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/01/2025.
2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Bùi Tuấn A1 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/3/2025.
- Giao bị cáo Bùi Tuấn A1 cho Ủy ban nhân dân phường I, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự:
Ghi nhận việc bị cáo Bùi Tuấn A1 nộp 3.000.000 đồng và gia đình bị cáo Trần Thế A đã tự nguyện thay bị cáo nộp 2.000.000 đồng tại các Biên lai thu tiền số 0000845 và 0000844 ngày 12/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình để bồi thường tổn thất tinh thần cho chị Đỗ Thị Hà M.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G, vỏ màu hồng bạc; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel Hapi 30, vỏ màu vàng; 01 cây máy tính vỏ màu đen, trên cây máy tính có in dòng chữ màu trắng “C00LERPLUS”; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung, màu đen, đã qua sử dụng; 01 bàn phím máy tính màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chuột máy tính màu đen quản lý, thu giữ của Trần Thế A; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, vỏ màu vàng quản lý của Bùi Tuấn A1.
(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày ngày 14/3/2025).
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Trần Thế A và Bùi Tuấn A1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/5/2025.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; - VKSND TP. và tỉnh Thái Bình; - CQ CSĐT, THAHS Công an tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS TP. Thái Bình; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Lưu: hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Hà |