vanban.org

Bản án 51/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thạch Lâm P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 15, Điều 57; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thạch Lâm P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/4/2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 Bộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thạch Lâm P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST
Ngày: 10-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Minh Lý;

2. Bà Nguyễn Thị Nữ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Thạch Lâm P, sinh năm 2005, CCCD: 0942…2, tại tỉnh Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ); nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố Cần Thơ); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Hồng P và bà Lâm Thị D; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2025 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Phan Đức D, sinh năm 1985; nơi cư trú: số 01, đường 1, khu 1, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Bình T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền chơi game và tiêu xài cá nhân nên Thạch Lâm P nảy sinh ý định đi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Thực hiện ý định trên, P mua một cây kìm cộng lực với giá 300.000 đồng.

Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 27/4/2025, sau khi chơi game tại quán Internet TR4 thuộc phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, P điều khiển xe mô tô biển số 81T3-2707 đến địa phận phường Phú Tân, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tìm tài sản để lấy trộm. Khi đến căn nhà số 01, đường 1, khu 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh) thì P phát hiện 01 xe ba bánh, nhãn hiệu Loncin, biển số 60Y3-7839, có số khung HKZ-004568, số máy: LX162mk21j-004568 dùng để chở hàng của anh Phan Đức D đang đậu bên đường và được khóa bởi dây xích nhưng không ai trông coi, nên P sử dụng kìm cộng lực cắt dây xích, khi đang cắt thì bị lực lượng bảo vệ Khu liên hợp đang đi tuần tra phát hiện bắt quả tang, giao cho lực lượng công an phường Phú Tân tiếp tục điều tra xử lý. Tại Công an phường Phú Tân (nay là Công an phường Bình Dương), Thạch Lâm P đã thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm tài sản của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) kìm cộng lực, có tay cầm bằng nhựa màu xanh lá; 01 (một) xe mô tô, số khung: WT110-2000174, số máy: LC152FMH-1706218.

Bản Kết luận định giá tài sản số 80/KL-HDĐGTS ngày 29/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, kết luận về giá của tài sản: 01 (một) xe ba bánh, nhãn hiệu Loncin, biển số 60Y3-7839, có số khung: HKZ-004568; số máy: LX162MK21J-004568, giá định 12.200.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Ngày 06/5/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương đã giao trả xe ba bánh, nhãn hiệu Loncin, biển số 60Y3-7839, có số khung: HKZ-004568; số máy: LX162MK21J-004568 cho anh Phan Đức D.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Đức D nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.

Cáo trạng số 32/CT-VKSKV15 ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Thạch Lâm P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các Điều 15, 50 và 57; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thạch Lâm P từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

+ Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 (một) kìm cộng lực, có tay cầm bằng nhựa màu xanh lá; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô, số khung: WT110-2000174, số máy: LC152FMH-1706218.

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận; trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Lâm P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 00 giờ 00 ngày 27/4/2025 tại căn nhà số 01, đường NB1, khu 1, phường Thủ Dầu Một, Thành phố Hồ Chí Minh, Thạch Lâm P đã có hành vi lén lút dùng kìm cộng lực cắt dây xích khóa để lấy trộm xe ba bánh nhãn hiệu Loncin, biển số 60Y3-7839, có số khung: HKZ-004568; số máy: LX162MK21J-004568 trị giá 12.200.000 đồng của anh Phan Đức D nhưng khi đang thực hiện hành vi cắt dây xích thì bị phát hiện và bắt quả tang. Hành vi mà bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (phạm tội chưa đạt). Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng v n thực hiện hành vi phạm tội với l i cố ý, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Vì vậy, cần xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thạch Lâm P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị cáo phạm tội chưa đạt, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 (một) kìm cộng lực, có tay cầm bằng nhựa màu xanh lá, là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 (một) xe mô tô, số khung: WT110-2000174, số máy: LC152FMH-1706218, là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 136, 260 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thạch Lâm P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 15, Điều 57; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thạch Lâm P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/4/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) kìm cộng lực, có tay cầm bằng nhựa màu xanh lá;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô, số khung: WT110-2000174, số máy: LC152FMH-1706218, xe không có biển số, dàn nhựa ngoài (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 167.25 ngày 11/8/2025 giữa Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh và Cơ quan cảnh sát Điều Công an thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Thạch Lâm P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ