vanban.org

Bản án 51/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

Trả cho bị cáo Đinh Gia H 01 xe đạp màu xám bạc (tự sơn), theo biên bản giao nhận vật chứng số 29/BB-THADS(12) ngày 14/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự Trả
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST
Ngày 11-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thái Đình Mai.

2. Bà Vũ Thị Phương Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12

- Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Điểm – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2025/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Đinh Gia H, sinh năm: 1997 tại Bà ịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: tổ F, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là tổ F, khu phố F, phường B, thành phố Hồ Chí Minh); C ở: B N, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là tổ F, khu phố F, phường B, thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Phạm Hoài B (đã chết) và Trần Thị Ngọc N, sinh năm 1971; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có hai anh em.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2014/HSST ngày 11/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Bà ịa, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu xử phạt Đinh Gia H 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

- Quyết định số 33/QĐ-TA ngày 30/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bà ịa, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đinh Gia H thời hạn 15 tháng, ngày 01/7/2020 chấp hành xong.

Bị bắt ngày 06/6/2025, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn P, sinh năm: 1994 tại Bà ịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ H, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là tổ H, khu phố H, phường L, thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Làm Thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 (đã chết) và Nguyễn Thị T, sinh năm 1955; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có hai anh em.

Tiền án: Không.

Tiền sự:

- Quyết định số 46/QĐ-TA ngày 28/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bà ịa, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn P thời hạn 24 tháng, ngày 30/8/2023 chấp hành xong.

- Quyết định số 20/QĐ-TA ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà ịa, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn P thời hạn 18 tháng, ngày 19/5/2025 chấp hành xong.

Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2016/HSST ngày 26/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu xử phạt Nguyễn Văn P 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/8/2017, chấp hành xong hình phạt tù.

- Quyết định số 65 ngày 15/01/2024 của Công an thành phố B xử phạt Nguyễn Văn P số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị bắt ngày 06/6/2025, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Quốc S, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Đường số A, ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là xã L, thành phố Hồ Chí Minh).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Thu V, sinh năm: 1984; Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là xã L, thành phố Hồ Chí Minh).

(Ông S, bà V vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 05/6/2025, Nguyễn Văn P đi bộ sang nhà Đinh Gia H tại số B N, phường L, thành phố B, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là số B N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) để chơi. Khoảng 30 phút sau, H rủ P cùng đi nhậu tại nhà anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988, địa chỉ: tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là tổ A, khu phố H, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). H dùng xe đạp của mình chở P đến nhà anh T1 nhậu đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì H điều khiển xe đạp chở P đi về. Khi cả hai di chuyển đến đoạn Công viên bờ kè, phường L, thành phố B (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) thì H phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter màu xám xanh, biển số 72K1-29201, không có người trông coi, chìa khóa cắm sẵn trên xe đang dựng ở khu vực vỉa hè công viên nên H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này. H chở P chạy sát vào chiếc xe mô tô rồi rút chìa khóa xe mô tô và rủ P trộm cắp chiếc xe này thì P đồng ý. H nói P điều khiển xe đạp còn H nổ máy xe mô tô biển số 72K1-29201 đẩy P về nhà ông T1 để xe đạp tại đây. Sau đó, H điều khiển chiếc xe mô tô vừa trộm được chở theo P đem xe đi bán. Trên đường đi, cả hai thống nhất bán xe mô tô cho tiệm S3 do ông Trương Văn H1, sinh năm 1991, HKTT: tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (cũ) làm chủ với giá 5.000.000 đồng. Nếu bán được xe thì chia đôi tiền, nếu không bán được giá trên thì bao nhiêu cũng bán. H điều khiển xe chở P đi đến gần tiệm S3 tại ngã từ đường P và Võ Ngọc C1, do không muốn gặp anh H1 nên P xuống xe, còn H đến tiệm Hải S1 đề bán xe nhưng anh H1 không đồng ý mua. Lúc này, lực lượng công an phường L đi tuần tra, phát hiện H và phương tiện có biểu hiện nghi vấn nên đưa về làm việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B thu giữ: 01 chiếc xe nhãn hiệu Yamaha Exiter màu xám xanh, biển số 72K1-29201 số khung: 0610FY074091, số máy: G3D4E083801; 01 chiếc xe đạp màu xám bạc (tự sơn).

Tại Kết luận định giá tài sản số 72/KL-ĐGTS ngày 12/6/2025 của Hội đồng định giá tái ản trong tố tụng, Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xám xanh, biển số 72K1-29201, số khung 0610FY074091, số máy G3D4E083801 trị giá 12.000.000 đồng.

Tại Cơ quan Công an, Đinh Gia H và Nguyễn Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên (BL. 80-91, 128-139).

Quá trình điều tra xác định, các bị caó không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xám bạc, biển số 72K1-29201, số khung 0610FY074091, số máy G3D4E083801 là tài sản của bà Phạm Thị Thu V1, sinh năm: 1984, HKTT: ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (cũ) là chị dâu của ông Trần Văn S2. Bà V1 đã mua chiếc xe này vào năm 2015 với số tiền 42.000.000 và đứng tên chủ sở hữu trên Giấy đăng ký xe. Ngày 05/6/2025, bà V1 cho ông S2 mượn chiếc xe để đi chơi thì bị trộm cắp. Ngày 24/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho xe cho Trần Quốc S.

- 01 xe đạp màu xám bạc (tự sơn), đã qua sử dụng, VKSND khu vực 12-Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định chuyển vật chứng cho Phòng thi hành án dân sự khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh để lưu giữ, chờ xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Quốc S đã nhận lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xám xanh, biển số 72K1-292.01 và không có yêu cầu gì thêm. Bà Phạm Thị Thu V1 không có yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số 141/CT-VKS-KV12 ngày 12/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đinh Gia H và Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Gia H từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 16 tháng đến 22 tháng tù.

Về xử lý vật chứng áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Đối với 01 xe đạp màu xám bạc (tự sơn) của Đinh Gia H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị tuyên trả cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ ngày 05/6/2025, tại Công viên bờ kè thuộc khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là khu phố H, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh), Đinh Gia H và Nguyễn Văn P đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xám bạc, biển số 72K1-29201, trị giá 12.000.000 đồng do ông Trần Quốc S đang quản lý. Hành vi của bị cáo Đinh Gia H và Nguyễn Văn P đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, có khả năng lao động nhưng không chịu làm ăn lương thiện, lười lao động lại muốn hưởng thụ nhanh bằng thành quả, tài sản của người khác. Các bị cáo có vai trò đồng phạm với nhau, tuy nhiên mức độ giản đơn. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án. Bị cáo P có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo H từng bị xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo P từng bị xử phạt 02 lần về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe đạp màu xám bạc (tự sơn) của Đinh Gia H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả cho bị cáo H.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Gia H 20 (hai mươi) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2025.

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 18 (mười tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2025.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

Trả cho bị cáo Đinh Gia H 01 xe đạp màu xám bạc (tự sơn), theo biên bản giao nhận vật chứng số 29/BB-THADS(12) ngày 14/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (11/9/2025) các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. iêng bị hại vắng mặt, người có quyền nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ