- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Lê Thị Bé B ly hôn với anh Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/5/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Vân
2. Bà Huỳnh Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 478/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bé B, sinh năm 1990 (vắng mặt có đơn).
Địa chỉ: Số C, ấp A, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, ấp A, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Bé B trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T kết hôn vào năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 02/02/2018. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, Nguyên nhân do anh T là trụ cột gia đình, chị ở nhà nội trợ, nuôi con nên mỗi lần nhậu vào là anh T chửi bới, xúc phạm chị và gia đình chị. Càng ngày cuộc sống càng mệt mỏi, nặng nề. Chị cũng cố gắng chịu đựng nhưng anh T không sửa đổi. Nay chị nhận thấy hôn nhân của chị và anh T đã không còn hạnh phúc, vợ chồng đã không còn khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh T có 01 con chung tên Lê Xuân T1, sinh ngày 24/9/2019. Hiện cháu T1 đang sống cùng chị B. Cháu T1 bị bệnh tự kỷ và chi phí học hành cho cháu rất cao. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 và yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu T1 tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình tố tụng vụ án, bị đơn anh Lê Văn T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị B và không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:
- Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, cấp tống đạt các văn bản cho đương sự, gởi thông báo thụ lý, hồ sơ đến Viện kiểm sát đúng quy định, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục giải quyết của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chấp hành đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định, đảm bảo cho các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án nên đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Việc nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và phiên tòa xét xử vắng mặt đương sự là đúng theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật dân sự. Riêng bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật dân sự.
- Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị:
+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Bé B được ly hôn với anh Lê Văn T.
+ Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Xuân T1, sinh ngày 24/9/2019. Giao cho chị Lê Thị Bé B tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Xuân T1. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T1 nhưng không thấp hơn 1.930.000 đồng/tháng.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Bé B và anh Lê Văn T kết hôn vào năm 2018 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 02/02/2018. Do đó, hôn nhân của chị B và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, chị B cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với anh T. Anh T biết việc chị B yêu cầu ly hôn nhưng không đến Tòa chứng tỏ anh T không có thiện chí hàn gắn cùng chị B. Do đó, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân của chị B đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chị B là có căn cứ phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh T có 01 con chung tên Lê Xuân T1, sinh ngày 24/9/2018. Hiện cháu T1 đang sống cùng chị B và cháu T1 còn đang mắc bệnh tự kỷ. Xét việc chị B tiếp tục nuôi dưỡng là có cơ sở, đảm bảo được sự ổn định cho cuộc sống, việc học hành cũng như tâm sinh lý của cháu T1. Do đó, HĐXX chấp nhận giao cháu T1 cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi là phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Không ai có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Bé B phải nộp án phí hôn nhân gia đình và anh Lê Văng T2 phải nộp án phí cấp dưỡng theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 207, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận cho chị Lê Thị Bé B ly hôn với anh Lê Văn T.
2. Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Xuân T1, sinh ngày 24/9/2019. Giao cháu T1 cho chị B1 B tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T1 với mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng (ba triệu đồng mỗi tháng) cho đến khi cháu T1 tròn 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Chị Lê Thị Bé B phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng biên lai thu tiền số 0007116 ngày 22/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Anh Lê Văn T phải nộp án phí cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Ba Tri; - Chi cục THADS huyện Ba Tri; - UBND xã Vĩnh An (Ba Tri, Bến Tre); - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Minh Tâm |