- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại A và ông Nguyễn Trung Ph"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại A đối với bị đơn ông Nguyễn Trung Ph về việc “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2025/DS-ST Ngày: 16/6/2025 “V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Ngọc Phi.
2. Ông Bùi Huy Xuân.
-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại A.
Địa chỉ trụ sở: Số A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc K, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Thương mại A - Chi nhánh B. (vắng mặt)
Theo Quyết định ủy quyền số 3524/2023/QĐ-PC ngày ngày 25-12-2023 của Ngân hàng Thương mại A.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Trần Thị Thu Th, chức vụ: Chuyên viên Kiểm soát rủi ro Chi nhánh B - Ngân hàng Thương mại A. (có mặt)
Địa chỉ liên lạc: Số 03 A, phường B, thành phố C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Theo Giấy ủy quyền số 709/GUQ-CNBR ngày 05-11-2024 của Ngân hàng Thương mại A.
Bị đơn: Ông Nguyễn Trung Ph, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại A do bà Trần Thị Thu Th là người đại diện theo ủy quyền, trình bày:
Ngày 11-11-2020, ông Nguyễn Trung Ph có ký với Ngân hàng Thương mại A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại A- Các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Ph, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.
Ngày 31-3-2021, Ngân hàng đã đánh giá lại khách hàng hiện hữu và cấp lại hạn mức sử dụng 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), với mức lãi suất trong hạn 33.2%/01 năm. Khách hàng được sử dụng thẻ linh hoạt trong hạn mức tín dụng được cấp, được rút và trả tiền quay vòng nhiều lần. Theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thì lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau. Ông Ph phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí thể hiện trong sao kê tóm tắt. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Ph đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 165.100.000 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu một trăm ngàn đồng).
Do ông Ph vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng căn cứ vào quy định tại Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng để chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ của ông Ph với số tiền 108.960.114 đồng (Một trăm linh tám triệu chín trăm sáu mươi ngàn một trăm mười bốn đồng) sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn 4.15%/ 01 tháng từ ngày 15-9-2024.
Kể từ ngày được kích hoạt thẻ cho đến nay ông Ph đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 163.285.199 đồng (Một trăm sáu mươi ba triệu hai trăm tám mươi lăm ngàn một trăm chín mươi chín đồng). Như vậy, tính đến 16-6-2025, ông Ph còn thiếu của Ngân hàng số tiền 150.540.530 đồng (Một trăm năm mươi triệu năm trăm bốn mươi ngàn năm trăm ba mươi đồng), trong đó: Tiền nợ gốc 108.960.114 đồng (Một trăm linh tám triệu chín trăm sáu mươi ngàn một trăm mười bốn đồng), tiền nợ lãi quá hạn 41.580.416 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm tám mươi ngàn bốn trăm mười sáu đồng).
Nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Ph có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền trên và tiền lãi phát sinh sau ngày 16-6-2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ với Ngân hàng.
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Trung Ph để làm việc theo quy định của pháp luật nhưng ông Ph không đến. Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin cư trú của ông Ph tại địa phương nơi ông Ph đăng ký hộ khẩu thường trú. Kết quả xác minh cho thấy ông Ph có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và hiện ông Ph đang sinh sống tại đây.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng phần quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự và Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Trung Ph có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại A số tiền tạm tính đến ngày 16-6-2025 là 150.540.530 đồng (Một trăm năm mươi triệu năm trăm bốn mươi ngàn năm trăm ba mươi đồng) và tiền lãi phát sinh sau ngày 16-6-2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa ông Ph với Ngân hàng.
Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Ngân hàng Thương mại A khởi kiện ông Nguyễn Trung Ph phải trả số tiền vay còn thiếu theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký giữa hai bên nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng”; nơi cư trú của ông Nguyễn Trung Ph là xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền có mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Trung Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) mà vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[2.1.] Về tính hợp pháp của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại A ngày 11-11-2020, thấy:
Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại A) ngày 11-11-2020 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại A với ông Nguyễn Trung Ph là loại hợp đồng theo mẫu, các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức. Do đó, căn cứ vào Điều 405 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì thỏa thuận này có giá trị pháp lý nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Về số tiền gốc, tiền lãi nguyên đơn yêu cầu thanh toán theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại A) ngày 11-11-2020:
Ngày 11-11-2020, Ngân hàng Thương mại A - Chi nhánh B và ông Nguyễn Trung Ph đã ký 01 Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại A). Căn cứ vào Hợp đồng này, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông Ph với hạn mức sử dụng là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.
Ngày 31-3-2021, căn cứ vào kết quả đánh giá lại khách hàng hiện hữu nên Ngân hàng đã cấp lại hạn mức sử sụng 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), với mức lãi suất trong hạn 33.2%/01 năm. Khách hàng được sử dụng thẻ linh hoạt trong hạn mức tín dụng được cấp, được rút và trả tiền quay vòng nhiều lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Ph đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 165.100.000 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu một trăm ngàn).
Kể từ khi được kích hoạt thẻ sử dụng cho đến nay, ông Ph đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 163.285.199 đồng (Một trăm sáu mươi ba triệu hai trăm tám mươi lăm ngàn một trăm chín mươi chín đồng). Từ ngày 15-9-2024 do ông Ph vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và áp dụng mức lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ của ông Ph với mức lãi suất quá hạn 4.15%/01 tháng.
Như vậy, căn cứ vào Điều 23, 24 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại A; Điều 280, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì ông Ph đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 15-9-2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và áp dụng mức lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ của ông Ph với mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận giữa hai bên khi xác lập hợp đồng là phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay của các tổ chức tín dụng.
Do đó, cần buộc ông Ph phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vay còn thiếu tạm tính đến ngày 16-6-2025 là 150.540.530 đồng (Một trăm năm mươi triệu năm trăm bốn mươi ngàn năm trăm ba mươi đồng), trong đó: Tiền nợ gốc 108.960.114 đồng (Một trăm linh tám triệu chín trăm sáu mươi ngàn một trăm mười bốn đồng), tiền nợ lãi quá hạn 41.580.416 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm tám mươi ngàn bốn trăm mười sáu đồng).
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là: 150.540.530 đồng x 5% = 7.527.000 đồng (Bảy triệu năm trăm hai mươi bảy ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 280, 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ các Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại A đối với bị đơn ông Nguyễn Trung Ph về việc “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng”.
Ông Nguyễn Trung Ph có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại A số tiền vay còn thiếu tính đến ngày 16-6-2025 theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại A) ngày 11-11-2020 là 150.540.530 đồng (Một trăm năm mươi triệu năm trăm bốn mươi ngàn năm trăm ba mươi đồng), trong đó: Tiền nợ gốc 108.960.114 đồng (Một trăm linh tám triệu chín trăm sáu mươi ngàn một trăm mười bốn đồng), tiền nợ lãi quá hạn 41.580.416 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm tám mươi ngàn bốn trăm mười sáu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16-6-2025) cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Trung Ph còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại A) ngày 11-11-2020 cho đến khi trả hết nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Trung Ph phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm 7.527.000 đồng (Bảy triệu năm trăm hai mươi bảy ngàn đồng).
Ngân hàng Thương mại A không phải nộp án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại A số tiền 2.920.000 đồng (Hai triệu chín trăm hai mươi ngàn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001787 ngày 31 tháng 12 năm 2024.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án (ngày 16-6-2025). Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; -VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND H.Châu Đức; - Chi cục THADS H.Châu Đức; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Thanh Nga |