- Tranh chấp gì? án hình sự — "51 12-3 Ngô Hoàng T 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng T1 (ba) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 12 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Anh Tuấn
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thiện Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:
Ngô Hoàng T; sinh năm 1989; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: A Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn D và bà Nguyễn Thị T; có vợ Nguyễn Thị Kim N và có 01 con sinh năm 2014; tiền sự: Không;
Tiền án:
- Ngày 04/4/2017, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 38/2017/HSST). Ngày 03/7/2017, chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 28/12/2018, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 509/2018/HS-ST). Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 15/9/2018.
- Ngày 20/3/2019, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt tù của bản án số 509/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 02 năm 10 tháng tù (bản án số 36/2019/HS-ST. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 24/3/2018.
- Ngày 14/5/2019, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt tù của bản án hình sự sơ thẩm số 36/2019/HS-ST ngày 20/3/2019 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 03 bản án là 04 năm 01 tháng tù (ản án số 84/2019/HS-ST). Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 16/3/2018, tài sản chiếm đoạt có trị giá 1.200.000 đồng). Ngày 28/01/2022, chấp hành xong hình phạt tù.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2023 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Công ty cổ phần T6; địa chỉ trụ sở: Lô T, đường D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Ngọc Hoàng O, sinh năm 2000; nơi cư trú: G, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 20/2024/TGDĐ/UQ ngày 01/3/2024). (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 23/8/2023, Ngô Hoàng T1 điều khiển xe gắn máy biển số: 50N2-085.54 đi đến cửa hàng Đ, địa chỉ: C P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (Cửa hàng điện thoại Topzone là Chi nhánh của Công ty Cổ phần T6) để sửa chữa chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh của T1 đang sử dụng. Khi đến nơi, T1 để xe gắn máy bên ngoài rồi đi vào trong gặp chị Nguyễn Ngọc Hoàng O (là nhân viên của cửa hàng) để tư vấn sửa chữa điện thoại. Trong lúc đưa điện thoại di động cho chị O để sửa chữa, T1 thấy trên bàn làm việc ở phía sau lưng của chị O có 01 hộp đựng điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu đen 256 GB, không người trông coi nên T1 nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại trên. Thực hiện ý định, trong lúc chị O sửa chữa điện thoại, T1 đi ra phía sau lưng chị O, lén lút dùng tay trái lấy trộm chiếc hộp đựng điện thoại di động cất giấu vào túi quần sau bên phải của T1, sau đó T1 đi ra lấy xe gắn máy đi về.
Sau khi về đến nhà, T1 mở hộp kiểm tra thì thấy bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu đen 256 GB. Tỵ khởi động điện thoại rồi tắt máy, bỏ điện thoại di động nêu trên vào hộp rồi cất giấu vào trong tủ đựng giày dép ở phòng ngủ của T1, mục đích là để sử dụng. Khi chị O phát hiện bị mất điện thoại nên đến Công an P1, Quận H trình báo sự việc. Vụ việc được lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q điều tra, làm rõ.
Ngày 29/08/2023, Hội đồng định giá tài sản Quận H có kết luận định giá tài sản, xác định trị giá 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu đen 256GB là 25.545.000 đồng.
Ngày 28/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Ngày 30/8/2023, bắt tạm giam Ngô Hoàng T1 để điều tra. Quá trình điều tra, Ngô Hoàng T1 đã khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên. Tỵ đã giao nộp lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu đen 256 GB đựng trong hộp và 01 xe gắn máy biển số 50N2-085.54 cùng quần áo Tỵ mặc khi phạm tội.
Vật chứng vụ án:
- 01 hộp đựng điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu đen 256GB, là tài sản do bị cáo chiếm đoạt của bị hại. Ngày 12//2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại di động trên cho Công ty Cổ phần T6 (có chị Nguyễn Ngọc Hoàng O là người đại diện theo ủy quyền nhận tài sản).
- 01 xe gắn máy biển số 50N2-085.54, số máy: JK01E-0067193, số khung: RLHJK01041-Z019275. Qua xác minh, xe này do ông Ngô Văn D (sinh năm 1963, hộ khẩu thường trú: A Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - cha ruột của T1) đứng tên ăng ký xe. Ngày 23/8/2023, ông D cho T1 mượn xe gắn máy trên đi công chuyện nhưng không biết việc T2 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Ngày 17/11/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản là xe gắn máy trên cho ông D.
- 01 USB hiệu Kingston màu bạc lưu giữ hình ảnh Ngô Hoàng T1 trộm cắp tài sản do chị Nguyễn Ngọc Hoàng O giao nộp và không có nhu cầu nhận lại, hiện được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
- 01 áo sơ mi dài tay màu đen có hoa văn màu trắng, 01 quần Jean màu xanh, 01 nón vải màu trắng đen, 01 nón bảo hiểm màu đỏ đen bạc, 01 đôi giày màu trắng, 01 mắt kính màu đen, là đồ vật của T1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh tạm giữ của T1.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần T6 yêu cầu bị cáo T1 bồi thường số tiền 2.000.000 đồng do điện thoại mà T1 chiếm đoạt là hàng mới, đã qua sử dụng làm giảm giá trị tài sản. Ngày 20/9/2023, chị Nguyễn Thị Kim N (vợ của T1) đã bồi thường cho Công ty Cổ phần T6 số tiền 2.000.000 đồng và Công ty Cổ phần T6 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKS-Q8 ngày 01/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Cao P về tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ngô Hoàng T1 tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay màu đen có hoa văn màu trắng, 01 quần Jean màu xanh, 01 nón vải màu trắng đen, 01 nón bảo hiểm màu đỏ đen bạc, 01 đôi giày màu trắng, 01 mắt kính màu đen của bị cáo; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 23/8/2023, tại cửa hàng Đ, địa chỉ: số C P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Ngô Hoàng T4 hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu đen 256 GB trị giá 25.545.000 đồng, là tài sản của Công ty Cổ phần T6.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
g) Tái phạm nguy hiểm,
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Tài sản chiếm đoạt có giá trị “từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”.
Năm 2019, bị cáo bị kết án với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”, bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”, đây là tình tiết định khung hình phạt của tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho bị hại, bị cáo đã tác động gia đình bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận.
Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, được bồi thường khắc phục hậu quả và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Dữ liệu điện tử: 01 USB hiệu Kingston màu bạc lưu giữ hình ảnh Ngô Hoàng T1 trộm cắp tài sản do chị Nguyễn Ngọc Hoàng O giao nộp và không có nhu cầu nhận lại, xét là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Về xử lý vật chứng:
- 01 hộp đựng điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu đen 256GB, là tài sản của Cửa hàng điện thoại TopZone bị chiếm đoạt. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại di động trên cho bị hại, đồng thời bị hại không có ý kiến, yêu cầu liên quan đến việc tạm giữ, xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 xe gắn máy biển số 50N2-085.54, là phương tiện bị cáo dùng phạm tội. Qua xác minh, xe do ông Ngô Văn D (cha ruột T1) đứng tên giấy đăng ký xe. Ngày 23/8/2023, ông D cho T2 mượn xe gắn máy trên đi công chuyện nhưng không biết T1 sử dụng xe gắn máy trên làm phương tiện phạm tội. Ngày 17/11/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản là xe gắn máy trên cho anh Ngô Văn D là phù hợp quy định pháp luật.
- 01 áo sơ mi dài tay màu đen có hoa văn màu trắng, 01 quần Jean màu xanh, 01 nón vải màu trắng đen, 01 nón bảo hiểm màu đỏ đen bạc, 01 đôi giày màu trắng, 01 mắt kính màu đen, là các đồ vật Tỵ mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, xét không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max màu xanh của T1, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng T1 (ba) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2023.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay màu đen có hoa văn màu trắng, 01 quần Jean màu xanh, 01 nón vải màu trắng đen, 01 nón bảo hiểm màu đỏ đen bạc, 01 đôi giày màu trắng, 01 mắt kính màu đen.
Trả lại bị cáo Ngô Hoàng T1 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max màu xanh.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/3/2024).
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Ngô Hoàng T1 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quận 8; - VKSD TP.HCM; - CQĐT CA Quận 8; - CQ THAHS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Trại tạm giam Chí Hòa; - Chi cục THADS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |