vanban.org

Bản án 51/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trang Anh K với chị Hà Thị Hồng D.

Về nuôi con chung: Anh Trang Anh K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trang Anh H sinh ngày 01/02/2021. (Hiện cháu Trang Anh H sinh ngày 01/02/2021 đang sống chung với anh Trang Anh K). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa anh Trang Anh K với chị Hà Thị Hồng D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trang Anh K với chị Hà Thị Hồng D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 9 - 2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Minh Châu;

2. Ông Phạm Thiện Bửu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 109/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trang Anh K, sinh ngày 25/5/1996 (Vắng mặt có đơn);

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã C, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Hà Thị Hồng D, sinh ngày 20/01/1995 (Vắng mặt không lý do);

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã C, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Trang Anh K trình bày:

Về hôn nhân: Ngày 19/10/2020, anh và chị Hà Thị Hồng D đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thị xã (nay là thành phố H), tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn, chị Hà Thị Hồng D về chung sống bên gia đình chồng, nhưng trong quá trình chung sống thì đến đầu năm 2023, vợ chồng anh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau và bất đồng quan điểm sống nên không thể hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm đã không còn, không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa, mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được nên anh xin ly hôn với chị Hà Thị Hồng D.

Về con chung: Có 01 (một) người con chung tên Trang Anh H sinh ngày 01/02/2021 đang sống chung với anh; anh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị Hà Thị Hồng D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp đã triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Hà Thị Hồng D đầy đủ, đúng quy định của pháp luật, nhưng chị Hà Thị Hồng D không ý kiến phản đối với yêu cầu của nguyên đơn và không đến Tòa án nhân dân thành phố H để tham gia giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của pháp luật; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trang Anh K với chị Hà Thị Hồng D; về con chung: Anh Trang Anh K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Trang Anh H sinh ngày 01/02/2021; về cấp dưỡng: Anh Trang Anh K không yêu cầu, nên không xem xét, giải quyết; về tài sản và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

Anh Trang Anh K khẳng định không yêu cầu, cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Anh Trang Anh K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với chị Hà Thị Hồng D được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố H thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Anh Trang Anh K có đơn xin vắng mặt; chị Hà Thị Hồng D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

Về hôn nhân: Ngày 19 tháng 10 năm 2020, anh Trang Anh K và chị Hà Thị Hồng D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thị xã (nay là thành phố H), tỉnh Đồng Tháp là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống lúc đầu có hạnh phúc và sau này thường xuyên xảy ra rất nhiều mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau và bất đồng quan điểm, nhưng anh Trang Anh K cũng đã tạo điều kiện cho chị Hà Thị Hồng D khắc phục, sửa chữa, nhưng chị Hà Thị Hồng D không khắc phục, sửa chữa. Nhận thấy tình cảm của anh chị đã không còn, không có tiếng nói chung, không thể chịu đựng được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Đồng thời, Tòa án đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng, nhưng chị Hà Thị Hồng D cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của anh Trang Anh K. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận cho ly hôn.

Về nuôi con chung: Anh Trang Anh K yêu cầu nuôi dưỡng cháu Trang Anh H sinh ngày 01/02/2021, xét thấy anh Trang Anh K chăm sóc con phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác và cháu đang sống chung với anh Trang Anh K; không có tài liệu, chứng cứ chứng minh anh Trang Anh K không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận.

Về cấp dưỡng: Anh Trang Anh K không yêu cầu chị Hà Thị Hồng D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, nên không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không xem xét, giải quyết.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H: Về hôn nhân: Anh Trang Anh K và chị Hà Thị Hồng D được ly hôn; về con chung: Anh Trang Anh K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Trang Anh H sinh ngày 01/02/2021; về cấp dưỡng: anh Trang Anh K không yêu cầu chị Hà Thị Hồng D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nên không xem xét, giải quyết; về tài sản và nợ chung: Không có, không xem xét, giải quyết là có chứng cứ, nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vậy, anh Trang Anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng; chị Hà Thị Hồng D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 59, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trang Anh K với chị Hà Thị Hồng D.

Về nuôi con chung: Anh Trang Anh K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trang Anh H sinh ngày 01/02/2021.

(Hiện cháu Trang Anh H sinh ngày 01/02/2021 đang sống chung với anh Trang Anh K).

Anh Trang Anh K cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Hà Thị Hồng D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về cấp dưỡng: Anh Trang Anh K không yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Trang Anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số: 0011852 ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; anh Trang Anh K đã nộp đủ án phí.

Chị Hà Thị Hồng D không phải chịu án phí.

Anh Trang Anh K và chị Hà Thị Hồng D có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ