- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Kim N Ly hôn, tranh chấp về nuôi con Nguyễn Văn N1"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Kim N đối với anh Nguyễn Văn N1.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 11-6-2024. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Minh Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Minh Lý;
2. Ông Nguyễn Văn An.
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Hảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Tấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 287/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024; giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: chị Trần Thị Kim N, sinh năm 1998.
Địa chỉ: khu phố P, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh - (Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1996.
Địa chỉ: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh - (Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Kim N trình bày:
Chị và anh N1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 21/01/2020 tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian. Đến tháng 01/2023 thì vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn, do vợ chồng tính tình không hợp nhau trong mọi mặt cuộc sống, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã mất hạnh phúc gia đình. Mặc dù vợ chồng đã cho nhau cơ hội để hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Hiện vợ chồng đã ly thân nhau, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Huy C, sinh ngày 11/05/2020. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu C, chị không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án lấy lời khai, bị đơn - anh Nguyễn Văn N1 trình bày:
Anh và chị N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2019, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì hai vợ chồng có lời qua tiếng lại cho đến năm 2023 thì vợ chồng bất đồng quan điểm nên chị N bỏ về nhà mẹ ruột sống cho đến nay. Từ đó đến nay anh và chị N không gặp nhau. Cha mẹ anh N1 có khuyên nhủ chị N và anh N1 đoàn tụ nhưng không được. Nay anh đồng ý ly hôn với chị N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Huy C, sinh ngày 11/05/2020. Khi ly hôn, anh đồng ý để chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu C, anh không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Kim N yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn N1.
Về con chung: Giao cháu cháu Nguyễn Huy C, sinh ngày 11/05/2020 cho chị Trần Thị Kim N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị N không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con.
Anh N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: nguyên đơn chị Trần Thị Kim N, bị đơn anh Nguyễn Văn N1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh N1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh được xem là hôn nhân hợp pháp. Chị N và anh N1 đã ly thân từ năm 2023 đến nay, do trong cuộc sống quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, không tìm được tiếng nói chung. Tòa án đã làm việc đối với anh N1 thể hiện nguyện vọng của anh N1 đồng ý ly hôn với chị N. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh N1 trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn anh N1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: chị N và anh N1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Huy C, sinh ngày 11/05/2020. Khi ly hôn, nguyện vọng của chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu C. Anh N1 cũng đồng ý với việc chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu C. Hội đồng xét xử xét thấy, cần giao cháu cháu Nguyễn Huy C, sinh ngày 11/05/2020 cho Trần Thị Kim N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
Án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Kim N đối với anh Nguyễn Văn N1. Chị Trần Thị Kim N được ly hôn anh Nguyễn Văn N1.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huy C, sinh ngày 11/5/2020 cho chị Trần Thị Kim N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị N không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con.
Anh N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: chị N, anh N1 không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4. Án phí: Chị Trần Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027574 ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - UBND phường A; - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Minh Tú |