vanban.org

Bản án 51/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Vinh. Anh Vinh được ly hôn chị Lê Thị Ngọc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 51/2024/HNGĐ – ST
Ngày: 16-9-2024
V/v: Tranh chấp ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh

2. Bà Dương Thị Nam

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Huyền My - Thư ký Tòa án

nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Quỳnh Anh – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Phú Bình,

tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 148/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tiến Vinh, sinh năm 1983; nơi cư trú: Xóm Lương

Trình, xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên;

* Bị đơn: Chị Lê Thị Ngọc, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số nhà 39N Lê Quang

Định, tổ 01, phường Yên Thế, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai;

(Có mặt anh Vinh, chị Ngọc xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn

Tiến Vinh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vinh chung sống với chị Lê Thị Ngọc từ năm 2005

trên cơ sở tự nguyện đến năm 2008 đăng ký kết hôn tại UBND xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau do không cùng quan điểm sống, vợ chồng ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Hiện chị Ngọc cùng các con đã chuyển về tổ 01, phường Yên Thế, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai sinh sống. Anh Vinh xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu Phương, sinh

ngày 03/5/2006 và Nguyễn Tiến Quân, sinh ngày 19/3/2011. Hiện cả 02 con đang ở với mẹ. Nếu ly hôn anh Vinh đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Vinh xác định vợ chồng không có tài sản

chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai, bị đơn là chị Lê Thị Ngọc trình bày: Vợ chồng chung sống từ

năm 2005 và có có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và không hạnh phúc nên hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2018. Nay anh Vinh xin ly hôn, chị đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu Phương, sinh ngày

03/5/2006 và Nguyễn Tiến Quân, sinh ngày 19/3/2011 hiện cả hai con đang sinh sống cùng với mẹ. Khi ly hôn, chị Ngọc có nguyện vọng trực tiếp nuôi cả hai con. Chị không yêu cầu anh Vinh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ngọc xác định vợ chồng không có tài sản

chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án tiến hành ghi nhận ý kiến con chung của anh Vinh và chị Ngọc trình bày

khi bố mẹ giải quyết ly hôn, các con Nguyễn Thị Thu Phương và Nguyễn Tiến Quân đều có nguyện vọng ở với mẹ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vinh có đơn đề nghị Tòa án không tiến

hành hòa giải. Chị Ngọc đề nghị xin vắng mặt tất cả các buổi Tòa án giải quyết. Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa hôm nay.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của Thư ký: Đã

chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án như xác định thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp; Chấp hành đúng về thời hạn chuẩn bị xét xử; Tại phiên tòa đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại

các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố

tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Vinh,

anh Vinh được ly hôn với chị Ngọc.

Về con chung: Chị Ngọc trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung

Nguyễn Tiến Quân, sinh ngày 19/3/2011 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Vinh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Ngọc không yêu cầu, đề nghị Tòa án

không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Vinh và chị Ngọc xác định không có, không

yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Vinh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,

sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo quy định tại

điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Vinh cư trú tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình còn chị Ngọc có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giải quyết nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, anh Vinh có mặt, chị Ngọc xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1

Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tiến Vinh và chị Lê Thị Ngọc chung

sống với nhau từ năm 2005 trên cơ sở tự nguyện đến năm 2008 đăng ký kết hôn tại UBND xã Lương Phú, huyện Phú Bình do đó được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên nảy sinh nhiều mâu thuẫn do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Vinh xác định tình cảm vợ chồng không còn xin ly hôn. Chị Ngọc xác định vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, ly thân từ năm 2018 nên anh Vinh xin ly hôn, chị nhất trí. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Vinh, anh Vinh được ly hôn với chị Ngọc phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Vinh và chị Ngọc có có 02 con chung là Nguyễn Thị

Thu Phương, sinh ngày 03/5/2006 và Nguyễn Tiến Quân, sinh ngày 19/3/2011 hiện cả hai con đang sinh sống cùng với mẹ. Nếu ly hôn, chị Ngọc có nguyện vọng trực tiếp nuôi con, anh Vinh đề nghị giải quyết theo nguyện vọng của con. Hội đồng xét xử thấy cháu Nguyễn Thị Thu Phương sinh ngày 03/5/2006 tính đến ngày xét xử cháu đủ 18 tuổi đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự nên không xem xét giải quyết. Còn cháu Nguyễn Tiến Quân sinh ngày 19/3/2011, anh Vinh và chị Ngọc đều có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, hiện con đang ở với mẹ và con cũng có nguyện vọng ở với mẹ nên cần giao cho chị Ngọc trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Tiến Quân cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế, phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình. Anh Vinh không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Vinh có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Ngọc không yêu cầu anh Vinh cấp dưỡng

nuôi con nên cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Vinh.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Vinh và chị Ngọc xác định không có,

không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Vinh phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố

tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến

Vinh. Anh Vinh được ly hôn chị Lê Thị Ngọc.

2. Về con chung:

Con chung của anh Vinh và chị Ngọc là Nguyễn Thị Thu Phương, sinh ngày

03/5/2006 tính đến ngày xét xử cháu đủ 18 tuổi, đã thành niên.

Giao cho chị Ngọc trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

chung là Nguyễn Tiến Quân, sinh ngày 19/3/2011 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Vinh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Vinh có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối

với anh Vinh.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Tiến Vinh phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm

nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003896 ngày 10/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, anh Nguyễn Tiến Vinh có

quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Lê Thị Ngọc có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

Cỡ chữ