vanban.org

Bản án 51/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn D được ly hôn bà Ngô Thị Nh.

Về con chung: Không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa ông Nguyễn Văn D và bà Ngô Thị Nh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn D được ly hôn bà Ngô Thị Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16 – 9 – 2024
“V/v ly hôn ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Đương.

- Ông Cao Tiến Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Trúc Hà – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 178/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Văn D. Sinh năm 198x. Địa chỉ xóm VP, xã HS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Bà Ngô Thị Nh. Sinh năm 199x. Địa chỉ xóm A, xã HS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Nh và ông Nguyễn Văn D làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã HS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/8/202x. Từ khi kết hôn đến khoảng tháng 04/2024 vợ chồng sống hạnh phúc, từ tháng 04/2024 đến nay hai người sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến việc bà Ngô Thị Nh bỏ nhà đi từ tháng 4/2024 đến nay không về. Đến nay ông Nguyễn Văn D thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông Nguyễn Văn D được ly hôn bà Ngô Thị Nh

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Ngô Thị Nh và ông Nguyễn Văn D không có con chung. Bà Ngô Thị Nh hiện nay không mang thai.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn.

Tại bản tự khai ngày 09/9/2024, bị đơn trình bày như sau: Bà Ngô Thị Nh đồng ý với ông Nguyễn Văn D về thời gian, điều kiện đăng ký kết hôn, thời gian sống ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn, về con chung, tài sản chung, nợ chung. Bà Ngô Thị Nh thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông Nguyễn Văn D nên bà Ngô Thị Nh đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông Nguyễn Văn D và bà Ngô Thị Nh không có con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ngô Thị Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn.

Tại phần tranh luận: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An sau khi nhận xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và phân tích nội dung vụ án; đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn D được ly hôn bà Ngô Thị Nh.

- Về con chung: Không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ngô Thị Nh, ông Nguyễn Văn D đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là bà Ngô Thị Nh có địa chỉ ở xóm A, xã HS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Ông Nguyễn Văn D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với bà Ngô Thị Nh. Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn đã có ý kiến trình bày đầy đủ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét việc vắng mặt của bị đơn tại phiên toà không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ ý kiến trình bảy của các đương sự, căn cứ biên bản xác minh ngày 04/9/2024, Hội đồng xét xử xác định bà Ngô Thị Nh và ông Nguyễn Văn D làm thủ tục đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và đã được Ủy ban nhân dân xã HS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/8/202x, do đó hôn nhân giữa bà Ngô Thị Nh và ông Nguyễn Văn D là hợp pháp. Ông Nguyễn Văn D có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn bà Ngô Thị Nh nên cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy bà Ngô Thị Nh, ông Nguyễn Văn D sống ly thân từ tháng 04/2024 đến nay và cả hai người đều không còn chăm lo cho nhau, không người nào có biện pháp để giữ gìn hạnh phúc gia đình, điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D và giải quyết cho ông Nguyễn Văn D được ly hôn bà Ngô Thị Nh.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Ngô Thị Nh và ông Nguyễn Văn D không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn D được ly hôn bà Ngô Thị Nh.

2. Về con chung: Không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do ông Nguyễn Văn D đã nạp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009564 ngày 04/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (Đã thi hành xong).

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ