vanban.org

Bản án 51/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn ly hôn của chị Lưu Thị Thanh Thúy đối với anh Tố Quang Tuấn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung, cháu Tố Đức Anh Quân (trai), sinh ngày 27/11/2006 và cháu Tố Đức Gia Bảo (trai), sinh ngày 10/07/2012. Giao cả 02 con chung cho chị Thúy trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 01/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn ly hôn của chị Lưu Thị Thanh Thúy đối với anh Tố Quang Tuấn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/01/2024
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến, ông Phan Minh Tuấn.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Trang - Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Bùi Hoàng Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 29/01/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 458/TL-HNGĐ ngày 07/11/2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2023/QĐXX-ST ngày 28/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02 /QĐST-HPT ngày 12/01/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Thanh Thúy, sinh năm 1982 (Có mặt)

Bị đơn: Anh Tố Quang Tuấn, sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Cùng HKTT và địa chỉ: Số nhà 1, ngõ 40/73/1/30, TDP số 4 Miêu Nha,

phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh Tố Quang Tuấn tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội (Nay là phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội) vào ngày 28/04/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị về sống tại địa chỉ số nhà 1, ngõ 40/73/1/30, TDP số 4 Miêu Nha, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, anh chị sống hạnh phúc được khoảng 02 năm đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Tuấn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không quan tâm và không có trách nhiệm đối với gia đình vợ con. Cả hai bên gia đình đã khuyên bảo và động viên nhưng tình cảm và sự thay đổi của anh chị không có kết quả, anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay.

Chị Thúy xác định không còn tình cảm với anh Tuấn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị Thúy và anh Tuấn có 02 con chung, cháu Tố Đức Anh Quân (trai), sinh ngày 27/11/2006 và cháu Tố Đức Gia Bảo (trai), sinh ngày 10/07/2012.

Sau ly hôn, chị Thúy có nguyện vọng được nuôi cả 02 con, vì anh Tuấn không thể nuôi được con, do anh Tuấn không có việc làm và không có thu nhập ổn định, công việc thường xuyên đi xa nên không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các con chu đáo. Hiện nay chị Thúy đang kinh doanh thuốc Phúc An Khang tại số 170, phố Trung Kính, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội, chị có căn hộ đang cho thuê tại số 13, tầng 7, tòa GS02 khu đô thị mới Tây Mỗ- Đại Mỗ, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Tổng thu nhập một tháng của chị khoảng 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Địa chỉ mà chị Thúy đang sinh sống hiện nay là nhà đất của bố mẹ đẻ cho chị và các con sinh sống tại đây, bố mẹ chị ở sát nhà chị hỗ trợ chị về thời gian và kinh tế cho chị chăm sóc các cháu.

Về cấp dưỡng: Không yêu cầu anh Tuấn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Thúy, anh Tuấn không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Thúy, anh Tuấn không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Tuấn đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, Thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng anh Tuấn đều vắng mặt cũng như không đưa ra quan điểm hay tài liệu gì về yêu cầu ly hôn của chị Thúy. Nên Tòa án không lấy được ý kiến của anh Tuấn.

Tại phiên toà:

Chị Thúy giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trước đây. Đề nghị HĐXX cho chị được ly hôn anh Tuấn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình, nguyên đơn chấp hành quy định, bị đơn không chấp hành.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa để xác minh thu thập chứng cứ sau:

- Tình trạng hôn nhân của chị Thúy và anh Tuấn về việc mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng hay chưa ;

- Thu nhập, điều kiện chăm sóc giáo dục của đương sự để xem xét nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình và trẻ em (Phòng lao động thương binh xã hội quận) về giáo dục chăm sóc con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định.

* Về tố tụng:

Chị Lưu Thị Thanh Thúy và anh Tố Quang Tuấn có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội (Nay là phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội) vào ngày 28/04/2005 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Do đó đây là hôn nhân hợp pháp. Anh Tuấn có HKTT và nơi cư trú thường xuyên tại Số nhà 1, ngõ 40/73/1/30, TDP số 4 Miêu Nha, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội nên yêu cầu của chị Thúy thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Trong quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ đối với anh Tuấn nhưng anh Tuấn vắng mặt không có lý do, không có quan điểm về nội dung vụ án, Tòa án không lấy được lời khai của anh Tuấn. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Tuấn.

* Về nội dung:

- Về tình cảm: Chị Thúy, anh Tuấn đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Hiện chị Thúy và anh Tuấn đang sinh sống tại số nhà 1, ngõ 40/73/1/30, TDP số 4 Miêu Nha, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Tòa án đã nhiều lần gửi Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ ngày để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Tuấn đều vắng mặt nên tòa án không tiến hành lấy lời khai cũng như tiến hành việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Anh Tuấn cũng không cung cấp các tài liệu chứng cứ nào cho Tòa án.

Ngày 08/11/2023, Tòa án xác minh với chính quyền địa phương về tình trạng hôn nhân của anh chị được cung cấp: Chị Thúy và anh Tuấn kết hôn vào năm 2005. Sau khi kết hôn anh chị về sống số nhà 1, ngõ 40/73/1/30, TDP số 4 Miêu Nha, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Trong quá trình sinh sống tại địa phương chính quyền không thấy vợ chồng chị Thúy báo cáo vợ chồng có mâu thuẫn gì, nên chính quyền không nắm được. Nay chị Thúy có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh chị có 02 con chung, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét thấy trong cuộc sống, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa chị Thúy, anh Tuấn không có được điều này mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến bất đồng quan điểm sống, anh Tuấn có mối quan hệ ngoài hôn nhân (theo ý kiến của chị Thúy), không quan tâm, vun vén hạnh phúc gia đình, cùng nhau chăm sóc con cái, khiến hạnh phúc gia đình ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Đó là nguyên nhân dẫn đến việc anh chị sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Tòa án đã nhiều lần mời chị Thúy lên Tòa để trao đổi hòa giải nhưng chị Thúy giữ nguyên quan điểm ly hôn và xác định không còn tình cảm với anh Tuấn. Trong quá trình giải quyết, Tòa án triệu tập anh Tuấn nhiều lần để hòa giải nhưng anh Tuấn không hợp tác, đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chi Thúy xin ly hôn anh Tuấn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận.

- Về con chung: Chị Thúy và anh Tuấn có 02 con chung là Tố Đức Anh Quân, sinh ngày 27/11/2006 và Tố Đức Gia Bảo, sinh ngày 10/07/2012.

Hiện chị Thúy đang kinh doanh thuốc Phúc An Khang tại số 170, phố Trung Kính, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội, (Chị Thúy có nộp bản công chứng Đăng ký kinh doanh) chị có căn hộ đang cho thuê tại số 13, tầng 7, tòa GS02 khu đô thị mới Tây Mỗ- Đại Mỗ, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Tổng thu nhập một tháng của chị khoảng 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Địa chỉ mà chị Thúy đang sinh sống hiện nay là nhà đất của bố mẹ đẻ cho chị và các con sinh sống tại đây, bố mẹ chị ở sát nhà chị hỗ trợ chị về thời gian và kinh tế cho chị chăm sóc các cháu.

Chị Thúy có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống ổn định tại số nhà 1, ngõ 40/73/1/30, TDP số 4 Miêu Nha, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Xét thấy, Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

Trong bản tự khai của cháu Tố Đức Anh Quân và cháu Tố Đức Gia Bảo, là 02 con chung của anh Tuấn, chị Thúy cùng có ý kiến sau khi bố mẹ ly hôn cả 02 cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ.

Do đó, chị Thúy có đủ các điều kiện để nuôi dưỡng cả 02 con chung phát triển tốt. Nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung của chị Thúy là phù hợp cần được chấp nhận.

Giao cả 02 con chung cho chị Thúy trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 01/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh Tuấn khi có sự thay đổi khác. Anh Tuấn được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Thúy phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Điều 28, 35, 39, khoản 1 Điều 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.

Xử:

- Chấp nhận đơn ly hôn của chị Lưu Thị Thanh Thúy đối với anh Tố Quang Tuấn. Chị Lưu Thị Thanh Thúy được ly hôn anh Tố Quang Tuấn.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung, cháu Tố Đức Anh Quân (trai), sinh ngày 27/11/2006 và cháu Tố Đức Gia Bảo (trai), sinh ngày 10/07/2012. Giao cả 02 con chung cho chị Thúy trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 01/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con đối với anh Tuấn đến khi có sự thay đổi khác.

Anh Tuấn được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Không có, Không yêu cầu giải quyết, nên không xét.

- Về án phí: Chị Thúy phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số 0009080 ngày 07/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, được chuyển thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ