- Tranh chấp gì? án hình sự — "CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THANH HÓA Bản án số: 51/2023/HSST Ngày: 24 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lương Thị Cúc
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguy n Duy Biên
2. Bà: Nguy n Thị Sen
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: ng Nguy n Văn Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/HSST ngày 14/4/2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXXST- HS, ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
V HU H – Sinh năm: 1982; Nơi sinh: xã Qu nh H, huyện Qu nh L, tỉnh Nghệ A và nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: thôn Hồng N, xã Qu nh H, huyện Qu nh L, tỉnh Nghệ A; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: V Văn Ng – đã chết, ông Ng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và con bà Ngô Thị X – Sinh năm 1948; Vợ: Hồ Thị Q - sinh năm 1985, có 02 con lớn SN 2012, nhỏ SN 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/3/2023 cho đến ngày 19/5/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguy n Bá K – sinh năm 1988 – V ng mặt
HKTT: Thôn Đông Y, xã Hải Y, Nghi S, Thanh H
- Người làm chứng: Dương Minh Ph – sinh năm 1982 – V ng mặt
Địa chỉ: Thôn 7, xã Qu nh V, huyện Qu nh L, tỉnh Nghệ A
Nguy n Thế A – sinh năm 1982 – V ng mặt
Địa chỉ: Xóm 3, xã Qu nh H, huyện Qu nh L, tỉnh Nghệ A.
+ Lê Văn Tro – sinh năm 1987 – v ng mặt
Địa chỉ: thôn Phú M, xã Trung Th, huyện Nông C, Thanh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
V Huy H và Nguy n Bá K là công nhân của Cảng xi măng Công Thanh tại thôn Nam Sơn, xã Nghi Sơn, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa.
Khoảng 21 giờ ngày 30/5/2022, H và K cùng với anh Dương Minh Phú, Nguy n Thế Anh và Lê Văn Trọng đang ở trong phòng nghỉ của Cảng xi măng Công Thanh thì giữa H và K có xảy ra mâu thu n, cãi nhau d n đến xô xát, H dùng tay đấm vào mặt K, anh K né tránh thì bị móng tay của H quệt ngang sống m i. Tiếp đó H dùng đầu húc vào sống m i K làm K chảy máu m i. Lúc này mọi người trong phòng can ngăn nên K ra khỏi phòng, H và những người khác đi phía sau. Khi ra đến bàn uống nước thì K cầm một cái điếu cày b ng tre dài khoảng 62,5cm, đường kính 4,5cm đánh 3, 4 cái về phía sau đầu H. Lúc này, H đưa tay đỡ nên bị thương ở đầu và tay. Bực tức việc K đánh mình nên H cầm một ấm trà b ng sứ, màu tr ng trên bàn uống nước đập vào vùng đầu bên trái của anh K, ấm trà bị vỡ, mảnh vỡ văng vào vùng má trái và môi anh K làm anh K bị thương. Thấy vậy mọi người can ngăn H và đưa anh K đi cấp cứu.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 742/2022/TTPY ngày 13/9/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tổng t lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguy n Bá K được tính theo phương pháp xác định t lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 15 .
Bản kết luận giám định pháp y về cơ chế hình thành thương tích số 757/2022/TTPY ngày 13/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- Vết thương vùng trán đỉnh bên trái; Vết thương vùng má dưới đuôi m t trái; vết thương tại vùng môi dưới; vết xây xước da tại vùng mặt bên trái: do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh s c, hoặc vật có cạnh s c nhọn. Tại thời điểm giám định pháp y về cơ chế hình thành thương tích: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan đề xác địnhchính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
Tại Bản kết luận giám định số 923/2022/TTPY ngày 03/10/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận t lệ tổn thương cơ thể của V Huy H:
- Sẹo vết thương phần mềm vùng ô mô xương bàn II lòng bàn tay trái, kích thước sẹo nhỏ 01 ;
- Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt sau ngoài khủy tay trái, kích thước sẹo nhỏ 01
- Sẹo vết thương phần mềm vùng mu đốt 2 ngón III bàn tay trái, kích thước sẹo nhỏ 01 ;
- Các vết thương khác đã điều trị 0
Hiện tại tổng t lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên theo phương pháp xác định t lệ tổn thương cơ thể là 03% ( ba phần trăm).
Tại bản kết luận giám định pháp y cơ chế hình thành thương tích số 933/2022/TTPY ngày 03/10/2022, Trung tâm pháp y sở y tế Thanh Hóa kết luận:
- Vết thương sưng nề, tấy đỏ tại vùng đỉnh đầu bên phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày hoặc vật tày có cạnh.
- Vết thương rách da tại vị trí mặt trong bàn tay trái, vết thương trầy xước da tại vị trí khủy tay trái, vết thương rách da tại vị trí đốt 2, ngón 3 bàn tay trái. Do tác động của ngoại lực được tạo nên bởi vật tày có cạnh hoặc vật có cạnh s c hoặc vật có cạnh s c nhọn.
Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối với thương tích của bị cáo ngày 17/10/2022, bị cáo đã có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với việc mình bị đánh gây thương tích nên CQĐT không có căn cứ để khởi tố điều tra vụ án mà ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguy n Bá K về hành vi K dùng điếu cày gây thương tích cho H.
Bản cáo trạng số 55CT-VKSNS - HS ngày 14/4/2023 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố V Huy H về tội: “Cố ý gây thương tích”.
Tại phiên tòa Đại diện VKS v n giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS và đề nghị mức hình phạt từ 28 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại. Bị hại không có yêu cầu gì thêm đề nghị HĐXX Công nhận việc BTDS đã xong.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một điều cày, một ấm trà b ng sứ.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng có trong hồ sơ c ng như tại phiên tòa đã khai nhận rõ: Xuất phát từ mâu thu n cá nhân giữa Nguy n Bá K và V Huy H nên H đã có hành vi dùng ấm trà b ng sứ gây thương tích cho Nguy n Bá K làm anh K bị tổn hại 15 sức khỏe vào khoảng 21 giờ ngày 30/5/2022. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật.
Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: “Cố ý gây thương tích'' theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tang vật cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với lời kết luận của đại diện VKS. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội Cố ý gây thương tích'' theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.
. Xét tính chất hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo thấy r ng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của anh Nguy n Bá K, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, về nguyên nhân phạm tội giữa bị cáo và bị hại đã xảy ra mâu thu n lời qua tiếng lại sau đó mới di n ra sự việc xô xát giữa hai bên, bản thân bị hại c ng có l i một phần, bị hại c ng có hành vi gây thương tích cho bị cáo và bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất bột phát nhưng v n cần phải buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi và hậu quả do mình gây ra.
. Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đã bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, bị cáo có bố đ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và bà nội là bà mẹ Việt Nam anh H vì vậy khi lượng hình bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, hai tình tiết tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy bản thân bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhận thức được hành vi phạm tội của mình, có nơi cư trú ổn định nên nghĩ chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của Đại diện VKS c ng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật.
. Xét về phần dân sự: Bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong. Bị hại không đề nghị HĐXX giải quyết việc bồi thường mà công nhận phần bồi thường đã xong. Đây là thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX cần công nhận phần bồi thường đã xong.
. Xét về vật chứng gồm: Đối với một chiếc điếu cày mà Nguy n Bá K dùng để đánh V Huy H và một ấm trà sứ màu tr ng là hung khí H dùng để gây thương tích cho anh K là là vật chứng trong vụ án và xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QU ẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, hai tình tiết tại khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS.
- Tuyên bố: V Huy H phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Xử phạt: V Huy H 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho chính quyền UBND xã Qu nh H, huyện Qu nh L, tỉnh Nghệ A quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Về phần dân sự: Công nhận phần bồi thường dân sự đã xong.
- Về vật chứng: p dụng: điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: Một hộp cát tông bên ngoài được dán giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia và hình dấu của Cơ quan CSĐT – Công an thị xã Nghi Sơn, bên trong chứa một cái điếu cày, b ng tre, màu đen đã qua sử dụng, điếu có hình trụ dài 62,5cm đường kính 4,5cm, điếu được bọc đồng ở vị trí phần đầu, phần đuôi và phần nỏ điếu; Một hộp cát tông bên ngoài được dán giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia và hình dấu của Cơ quan CSĐT – Công an thị xã Nghi Sơn, bên trong chứa một ấm trà b ng sứ màu tr ng bị vỡ thành nhiều mảnh có kích thước to, nhỏ khác nhau gồm: 08 mảnh vỡ của phần thân ấm trà có kích thước khác nhau. Bên trên mảnh vỡ dài nhất có dòng chữ “U NH V N L N THỨ XXX” màu đỏ; 03 mảnh vỡ của phần n p ấm trà có kích thước khác nhau và 01 cái quai của ấm trà.
Tất cả các vật chứng trên hiện đang được nhập kho Chi cục THADS theo phiếu nhập kho số NK2023/40, ngày 21/4/2023.
- Án phí : p dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
- Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: p dụng Điều 331 và 333 BL TTHS. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, v ng mặt bị hại. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKS ND tỉnh Thanh Hóa - VKSND thị xã Nghi Sơn; - CQĐT CA TX Nghi Sơn; - Nhà tạm giữ CATX Nghi Sơn - THADS thị xã Nghi Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lƣơng Thị Cúc |