vanban.org

Bản án 51/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đổi với bị cáo Nguyễn Minh N.

Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đổi với bị cáo Huỳnh Trung L. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Nhựt cùng đồng phạm - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đổi với bị cáo Nguyễn Minh N.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 51/2023/HS-ST
Ngày: 21-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐTHUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thanh Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Túy Phượng – Cán bộ hưu trí

2. Ông Nguyễn Đăng Khoa – Bí thư Đoàn phường Hưng Định.

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phốThuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phốThuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2023/TLST- HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Minh N, sinh ngày 18/8/2004 tại tỉnh Đ; nơi cư trú: Ấp P, xã Đ, huyện H, tỉnh T; tạm trú: Khu phố 1, phường N, thị xã U, tỉnh D; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1984; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2022 cho đến nay.

2. Huỳnh Trung L, sinh ngày 19/11/2005 tại tỉnh G; nơi cư trú: Ấp Q, xã H, huyện M, tỉnh G; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Minh Đ, sinh năm 1978 và bà Phan Kim P, sinh năm 1982; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2022 cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Huỳnh Trung L: Ông Huỳnh Minh Đ, sinh năm 1978 và bà Phan Kim P, sinh năm 1982; cùng trú tại: Ấp Q, xã H, huyện M, tỉnh G (là cha mẹ ruột của bị cáo L). Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Trung L: Ông Nguyễn Bảo X, là Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương. Có mặt

- Bị hại: Bà Đỗ Thanh H, sinh năm 2004; trú tại: khu phố B, phường C, thành phố A, tỉnh D. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Võ Tuấn T, sinh năm 1981; trú tại: Ấp M, xã Ư, huyện Ơ, tỉnh Ă. Vắng mặt

2. Ông Võ Hoài N, sinh năm 2002; trú tại: Ấp M, xã Ư, huyện Ơ, tỉnh Ă. Vắng mặt

3. Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 2000; trú tại: Tổ 2, ấp i, xã Ê, huyện Â, tỉnh R. Có mặt

4. Bà Phan Kim P, sinh năm 1982; trú tại: Ấp Q, xã H, huyện M, tỉnh G. Có mặt

- Người làm chứng: Bà Đỗ Thanh Â, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26 tháng 8 năm 2022, Huỳnh Trung L đang ở phòng trọ thì Nguyễn Minh N đến rủ L đi tìm tài sản của người khác để chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài thì L đồng ý. Sau đó, N mượn xe mô tô hiệu Suzuki Satria, màu xanh, biển số 67D2-161.52 của bạn tên Võ Hoài N và đưa cho L điều khiển chở N ngồi sau đi từ khu phố 1, phường Hội Nghĩa, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đến địa bàn thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Khi cả hai đi đến đoạn đường Thủ Khoa Huân, thuộc khu phố Thạnh Hòa B, phường An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì thấy Đỗ Thanh  điều khiển xe mô tô hiệu Vario, màu trắng, biển số: 61E1-738.05 chở phía sau Đỗ Thanh H đang lưu thông cùng chiều phía trước. H để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng trong hộc phía trước bên trái của xe mô tô, khi phát hiện điện thoại di động của H thì N hỏi “có thấy điện thoại không?” L trả lời “thấy” đồng thời L điều khiển xe đi theo xe mô tô của  và H khoảng 300 mét, khi đến chỗ vắng người thì L điều khiển xe tiếp cận áp sát phía bên trái xe mô tô của  và H để N ngồi sau dùng tay phải giật lấy 01 điện thoại di động của H rồi L điều khiển xe nhanh chóng tẩu thoát về hướng ngã tư Bà Lè rẽ vào khu dân cư Thạnh Bình. Sau khi bị giật điện thoại thì  điều khiển xe mô tô đuổi theo L và N sau đó dùng điện thoại chụp ảnh L, N cùng xe biển số 67D2-161.52. Lúc này, do thấy  và H vẫn tiếp tục truy đuổi nên khi đến đoạn đường N7 khu dân cư Thạnh Bình, phường An Thạnh thì N đã vứt điện thoại di động của H xuống đường và bỏ chạy thoát. Â, H đến Công an phường An Thạnh trình báo sự việc.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria, màu xanh, biển số 67D2-161.52; 01 áo khoác màu đen; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu xanh đậm; 01 đôi dép lào màu trắng; 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu trắng chấm đen; 01 đôi dép màu đen; 01 quần tây màu đen.

Theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An ngày 30/8/2022 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng, 64Gb có giá 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).

Tại Cáo trạng số 51/CT-VKS -TA ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh N và bị cáo Huỳnh Trung L về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù;

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Huỳnh Trung L từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô hiệu Suzuki Satria, màu xanh, biển số 67D2-161.52 là phương tiện mà các bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội. N khai nhận chiếc xe trên mượn của bạn tên Võ Hoài N cùng dãy trọ. Qua làm việc Võ Hoài N khai nhận có cho N mượn xe để đi mua đồ, xe này của anh trai Nam tên Võ Tuấn T đứng tên chủ sở hữu. Làm việc với Võ Tuấn T xác định Thanh là chủ sở hữu xe biển số 67D2-161.52, xe này Thanh giao cho Võ Hoài N dùng làm phương tiện đi lại sau đó Nam cho N mượn như đã nêu trên. Việc N dùng xe này vào việc phạm tội thì Võ Hoài N, Võ Tuấn T không biết. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại xe cho Võ Tuấn T là có căn cứ.

- Đối với 01 áo khoác màu đen; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu xanh đậm; 01 đôi dép lào màu trắng; 01 áo sơ mi dài tay kẻ caro màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu trắng chấm đen; 01 đôi dép màu đen; 01 quần tây màu đen đây là tư trang các bị cáo L, N mang, mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt là 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu trắng, 64Gb, quá trình điều không thu hồi được, các bị cáo đã tác động gia đình liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đề cập xử lý.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Huỳnh Trung L trình bày: Thống nhất trình bày của bị cáo L và chỉ mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Trung L là ông Nguyễn Bảo X – Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương trình bày: Thống nhất tội danh, khung hình phạt của Kiểm sát viên, tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có tuổi đời còn rất trẻ nên nhận thức không đầy đủ việc làm sai trái của mình cũng như nhận thức pháp luật hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng chương XII những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để xử lý bị cáo. Từ những cơ sở trên, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại và của người làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/8/2022, tại đoạn đường Thủ Khoa Huân, thuộc khu phố Thạnh Hòa B, phường An Thạnh, thành phố Thuận An, Huỳnh Trung L điều khiển xe mô tô Suzuki Satria, màu xanh, biển số 67D2-161.52 phía sau chở Nguyễn Minh N chạy áp sát phía bên trái cùng chiều với xe mô tô hiệu Vario, màu trắng, biển số: 61E1-738.05 do Đỗ Thanh  điều khiển chở Đỗ Thanh H và dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng trong hộc phía trước bên trái của xe mô tô rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát. Theo tin báo của Đõ Thanh  và Đỗ Thanh H ngày 27/8/2022 Huỳnh Trung L và Nguyễn Minh N bị bắt.

Hành vi của các bị cáo sử dụng xe môtô áp sát và nhanh chóng giật lấy tài sản của bị hại rồi tẩu thoát đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 khoản 171 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm và nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại; gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo sử dụng thủ đoạn nguy hiểm, điều khiển xe môtô lưu thông với tốc độ cao, áp sát và nhanh chóng giật lấy tài sản rồi tẩu thoát, hành vi đó có thể làm nạn nhân bị bất ngờ và xảy ra tai nạn giao thông, gây nguy hiểm đến sức khoẻ, tính mạng của bị hại. Bị cáo nhận thức rõ việc chiếm đoạt trái phép tài sản người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, tư lợi nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm, bất chấp hậu quả xảy ra. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm khắc để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có sự phân công, bàn bạc cụ thể, tuy nhiên bị cáo N là người khởi xướng và rủ rê bị cáo L nên tính chất nguy hiểm cho xã hội của bị cáo N cao hơn bị cáo L.

Bị cáo Huỳnh Trung L khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi tuổi nên áp dụng quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo N xúi dục bị cáo L là người dưới 18 tuổi phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu trắng, 64Gb, quá trình điều không thu hồi được, nhưng các bị cáo tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì them nên không xem xét. Mặt khác, bà Nguyễn Thị Cẩm H (là chị của bị cáo Nguyễn Minh N) và bà Phan Kim P (là mẹ của bị cáo Huỳnh Trung L) quá trình điều tra và tại phiên tòa không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường thay cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô hiệu Suzuki Satria, màu xanh, biển số 67D2-161.52 là phương tiện mà các bị can dùng thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này do ông Võ Tuấn T đứng tên đăng ký chủ sở hữu, ông Thanh giao xe cho em trai là Võ Hoài N sử dụng làm phương tiện đi lại. Sau đó, Nam cho bị cáo N mượn và không biết N sử dụng xe này vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại xe cho Võ Tuấn T là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 (một) áo khoác màu đen; 01(một) quần Jean dài màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh đậm; 01 (một) đôi dép lào màu trắng; 01 (một) áo sơ mi dài tay kẻ caro màu xanh; 01(một)nón bảo hiểm màu trắng chấm đen; 01 đôi dép màu đen; 01 (một) quần tây màu đen là vật chứng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đổi với bị cáo Nguyễn Minh N.

- Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đổi với bị cáo Huỳnh Trung L.

- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N, Huỳnh Trung L phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2022.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Trung L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) áo khoác màu đen; 01(một) quần Jean dài màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh đậm; 01 (một) đôi dép lào màu trắng; 01 (một) áo sơ mi dài tay kẻ caro màu xanh; 01(một) nón bảo hiểm màu trắng chấm đen; 01 đôi dép màu đen; 01 (một) quần tây màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13 tháng 01 năm 2023 giữa Chi cục Thi hành dân sự thành phố Thuận An và Công an thành phố Thuận An).

3. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Minh N và bị cáo Huỳnh Trung L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Huỳnh Trung L; người bào chữa cho bị cáo L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ