- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Thành - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 26 tháng 5 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Việt – Chuyên viên Phòng giáo dục thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
2. Bà Đặng Thị Mỹ Hường – Chủ tịch Hội người cao tuổi phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 55/2023/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 5 năm 2023, đối với
- Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1954 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn T1 (chết) và bà Lê Thị C (chết); vợ Lê Thị G, có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 18 tháng 4 năm 2023 (có mặt).
- Bị hại: Cháu Phan Quỳnh A, sinh ngày 04/5/2014. Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Phan Trọng T2, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số H, đường P, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT 0907.590.038) (có đơn xin vắng mặt);
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Minh T3, sinh năm 1982 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (SĐT 0949.997.567) (có mặt);
- Người đại diện của nhà trường nơi bị hại học: Bà Nguyễn Quách Tiểu Loan A1, Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học N1 Địa chỉ: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt);
- Đại diện phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L: Ông Dương Thanh T4. Địa chỉ: I N (nối dài), phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T là hàng xóm của em Phan Quỳnh A, sinh ngày 04 tháng 5 năm 2014. Khoảng 16 giờ ngày 17 tháng 01 năm 2023, bị cáo T đang nằm võng ở quán C1 của bị cáo tại tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thì thấy em Quỳnh A đang chơi cùng các em Nguyễn Trần Gia P, Nguyễn Nguyên K, Huỳnh Quốc H trong sân quán nên nảy sinh ý định dâm ô em Quỳnh A. Thực hiện ý định này, bị cáo T gọi em Quỳnh A đến võng và bảo em P, K, H đi về. Lúc này, bị cáo T nằm trên võng kêu em Quỳnh A lên võng ngồi giữa hai chân của bị cáo, bị cáo tự kéo quần của bị cáo xuống giữa đùi rồi nắm tay phải của em Quỳnh A chạm vào dương vật của bị cáo. Sau đó, bị cáo T bảo em Quỳnh A dùng tay vuốt dương vật của bị cáo T khoảng 01 phút thì bị cáo T xuất tinh dính vào quần của bị cáo, áo và quần dài của em Quỳnh A.
Sau khi xuất tinh bị cáo T buông tay em Quỳnh A ra nên em Quỳnh A chạy về nhà khóc và nói lại sự việc trên với chị Nguyễn Bích N, anh Phan Trọng T2 (cha, mẹ ruột của em Quỳnh A). Sau đó, anh T2 cầm quần dài của em Quỳnh A đến nói chuyện với bị cáo T nhưng bị cáo T không thừa nhận hành vi trên, anh T2 nói sẽ giao nộp quần áo của em Quỳnh A cho Công an giám định. Sợ anh T2 đến Công an giao nộp nên bị cáo T đi theo sau anh T2 giật cái quần dài của em Quỳnh A chạy vào nhà tắm của anh T2 nhúng vào thùng nước để giặt. Anh T2 chạy đến giật lại quần và đến Công an phường M, thành phố L tố giác hành vi phạm tội của bị cáo T.
Vật chứng thu giữ gồm: Một cái quần đùi màu xám có viền màu xanh do Nguyễn Văn T giao nộp; Một áo thun dài tay màu hồng, nhãn hiệu T &V, trước ngực áo có hình chuột Mickey, vịt D, chữ love and peace; một quần dài, mặt trước ống quần có hình chuột M và chữ love là quần áo của em Phan Quỳnh A do anh Phan Trọng T2 giao nộp
Bản kết luận giám định số 1561/KL-KTHS ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Phân viện khoa học kỹ thuật hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh xác định: Mẫu cần giám định: Một cái quần đùi màu xám có viền màu xanh thu của Nguyễn Văn T; một áo thun dài tay màu hồng, nhãn hiệu T &V, trước ngực áo có hình chuột Mickey, vịt D, chữ love and peace và một quần dài, mặt trước ống quần có hình chuột M và chữ love là quần và áo của cháu Phan Quỳnh A; Mẫu so sánh: mẫu tóc thu của Nguyễn Văn T và Phan Quỳnh A. Kết luận: Trên các mẫu gửi giám định đều có tinh trùng người. Phân tích ADN từ các mẫu tinh trùng này được cùng một kiểu gen trùng với kiểu gen của Nguyễn Văn T.
Tại Cáo trạng số 67/CT-VKSLX-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần thun ngắn màu xám; 01 (một) áo thun dài màu hồng, nhãn hiệu T&V, trước ngực áo có hình chuột Mickey, vịt D, chữ love anh place và 01 quần dài, mặt trước ống quần có hình chuột M và chữ love, đây là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị thu tiêu hủy.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Về tội danh thống nhất với cáo trạng Viện kiểm sát truy tố; về bồi thường thiệt hại, đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường 50.000.000 đồng và có đơn bãi nại giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện phòng Lao động Thương binh và Xã hội: Bị hại chỉ mới 09 tuổi, tâm sinh lý chưa được phát triển đầy đủ, trong khi đó, bị cáo là người trưởng thành, tuổi đáng tuổi ông của bị hại nhưng lại cho rằng bị cáo không dụ dỗ bị hại mà do chính bị hại chủ động là chưa phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án cao nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.
Tại phần tranh luận bị cáo thừa nhận nội dung như cáo trạng truy tố, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại với số tiền 50.000.000 đồng. Nhưng không thừa nhận hành vi chủ động gọi bị hại đến võng, không thừa nhận nắm tay bị hại để vuốt dương vật bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát tranh luận, bị cáo là người lớn tuổi, tuổi tác đáng tuổi ông của bị hại lẽ ra phải biết việc gì nên làm việc gì không nên làm, bị hại là đứa trẻ 09 tuổi tâm sinh lý chưa được phát triển toàn diện, bị cáo cho rằng bị hại chủ động là không có căn cứ chấp nhận. Mặc dù bị cáo không thừa nhận hành vi chủ động của bị cáo nhưng chính bị cáo chủ động tự tuột quần của bị cáo xuống, khi bị phát hiện, bị cáo là người giật quần của bị hại khi anh T2 ba của bị hại đang giữ và đem vào thau nước để giặt cái quần là đủ căn cứ xác định chính bị cáo là người chủ động thực hiện hành vi dâm ô, hành vi không thừa nhận của bị cáo thể hiện bị cáo không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố, nhưng không thừa nhận hành vi chủ động gọi bị hại đến võng, không thừa nhận nắm tay bị hại để vuốt dương vật bị cáo. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị hại, bản tự khai ban đầu của bị cáo, hành vi bị cáo sau khi bị anh T2 là ba của bị hại phát hiện, bị cáo đã giật quần của bị hại nhúng vào thau nước để giặt nhằm xóa dấu vết. Vật chứng là quần áo thu giữ và kết luận giám định đã đủ căn cứ xác định ngày 17 tháng 01 năm 2023 bị cáo là người chủ động kêu bị hại đến võng nơi bị cáo đang nằm, ngồi lên dương vật của bị cáo, sau đó bị cáo tự kéo quần của bị cáo xuống, nắm tay em Quỳnh A để vuốt dương vật của bị cáo cho đến khi xuất tinh. Hành vi, thủ đoạn của bị cáo với động cơ, mục đích vô cùng đê hèn, nhằm thỏa mãn dục vọng, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường của người bị hại dưới 16 tuổi.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 146 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tính chất mức độ của hành vi:
Vấn đề xâm hại tình dục trẻ em là một trong những vấn đề nhức nhối của xã hội. Trẻ em là đối tượng được pháp luật bảo vệ, đảm bảo sự phát triển bình thường và toàn diện về tâm sinh lý cho trẻ em, ngăn chặn những hành vi lợi dụng sự non nớt, nhẹ dạ của trẻ em để đẩy họ vào những quan hệ tình dục quá sớm, gây ảnh hưởng xấu về mọi mặt. Bị cáo đáng tuổi ông của bị hại, nhận thức được hành vi mình làm là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì thỏa mãn dục vọng, gây ảnh hưởng xấu đến xã hội và cộng đồng dân cư nơi bị hại sinh sống. Do đó, việc đưa ra để xét xử là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống thượng tôn pháp luật, chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, tôn trọng các chuẩn mực đạo đức xã hội, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo tác động gia đình bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đại diện bị hại có đơn bãi nại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị báo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 146; điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 4 năm 2023.
[2]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần thun ngắn màu xám; 01 (một) áo thun dài màu hồng, nhãn hiệu T&V, trước ngực áo có hình chuột Mickey, vịt D, chữ love anh place và 01 quần dài, mặt trước ống quần có hình chuột M và chữ love
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên ngày 18 tháng 5 năm 2023)
[3] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy đinh tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)
| Nơi nhận: - VKSND TP. Long Xuyên; - VKSND tỉnh An Giang; - TAND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp; - Nhà Tạm giữ Công an TP. Long Xuyên; - CQTHAHS Công an TP. Long Xuyên; - CQĐT Công an TP. Long Xuyên; - Chi cục THADS TP. Long Xuyên; - Bộ phận THA Tòa án; - UBND cấp xã nơi BC cư trú; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Quốc Việt |