vanban.org

Bản án 51/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 08/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Đ (L) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) ly thủy tinh, chiều cao 11cm, bán kính miệng ly rộng 7,5cm, bán kính đáy ly rộng 6,5cm, độ dày ly 0,2cm được niêm phong trong một gói niêm phong có chữ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Đ (L) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU
Bản án số 51/2023/HS-ST

Ngày 08 tháng 5 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dư Thị Út

2. Bà Khưu Liên Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28A/2023/TLHS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Tấn Đ (tên gọi khác: L); sinh ngày 03/12/1993 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Số 14/310, khóm K, phường T, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; con ông Lê Tiến Đ1, sinh năm 1967 (chết) và bà Dương Thị T, sinh năm: 1969; có vợ là Lâm Hoài H, sinh năm 1996 và 02 người con (lớn nhất năm 2013, nhỏ sinh năm 2016); anh, chị, em ruột: 03 người (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2000); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị khởi tố bị can ngày 05/9/2022 và được tại ngoại điều tra đến nay, (có mặt).

* Bị hại: Anh Thái Văn V, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số 022/5, khóm C, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Lê Tấn Đ và anh Thái Văn V không quen biết, tuy nhiên cả hai là bạn của anh Đỗ Minh N1. Vào khoảng 20 giờ, ngày 02/5/2022, Nghĩa rủ Đ, V đến quán NICE, thuộc khóm N, phường N2, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để nhậu. Trong lúc nhậu, N1 thấy V nói chuyện không tôn trọng Đ nên nói với V: “Đ là bạn của anh, V nhỏ tuổi hơn nên không được xưng hô mày, tao và chửi thề” thì V không nói gì. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, tất cả đến quán Karaoke Ruby, thuộc khóm 4, phường 2, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu để hát với nhau. Tại đây, Đ thấy V tiếp tục có thái độ không tôn trọng mình nên nói với N1: “Em mày kiếm chuyện rồi, tính tiền về”, N1 đồng ý. Lúc này, V đứng dậy cầm lấy một ly thủy tinh dùng uống bia (loại có tay cầm chiều cao 11cm, bán kính miệng ly rộng 7,5cm, bán kính đáy ly rộng 6,5cm, độ dày ly 0,2cm) đánh Đ nhưng chỉ gây trầy xước nhẹ vùng mặt; Đ liền lấy một ly thủy tinh có đặc điểm tương tự như cái ly của V đánh hướng từ trái qua phải, trúng vào vùng đầu thái dương trái của V thì được mọi người can ngăn. V được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Bạc Liêu rồi chuyển đến Bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ điều trị, đến ngày 16/5/2022 thì xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 110/TgT ngày 02/8/2022, của Trung tâm pháp y tỉnh Bạc Liêu kết luận giám định tỷ lệ thương tích đối với Thái Văn V như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Một sẹo ở thái dương trái. Tỷ lệ: 01% (Một). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trái qua phải.

- Một sẹo mổ hình vòng cung ở trán – đỉnh – thái dương trái. Tỷ lệ: 02% (Hai).

- Khuyết sọ đáy phập phòng vùng trán – đỉnh – thái dương trái, kích thước: 13 x 10cm. Tỷ lệ: 41% (Bốn mươi mốt). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trái qua phải.

- Máu tụ dưới màng cứng bán cầu trái đã điều trị không còn hình thành tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh và không có di chứng thần kinh. Tỷ lệ: 08% (Tám). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trái qua phải.

- Xuất huyết khoang dưới bán cầu trái đã điều trị không còn hình thành tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh và không có di chứng thần kinh. Tỷ lệ: 08% (Tám). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trái qua phải.

- Ổ tổn thương não (dập não) vùng thái dương trái, kích thước: 2,7 x 2,1cm và không có di chứng thần kinh. Tỷ lệ: 26% (Hai mươi sáu). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trái qua phải.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 64% (Sáu mươi bốn).

Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Lê Tấn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của cơ quan chuyên môn.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố có quan điểm không thay đổi so với bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm d, khoản 4, Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Tấn Đ mức án từ 05 năm đến 06 năm tù.

- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu và tiêu hủy một ly thủy tinh chiều cao 11cm, bán kính miệng ly rộng 7,5cm, bán kính đáy ly rộng 6,5cm, độ dày ly 0,2cm.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường, không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

Bị cáo giữ nguyên lời khai trong giai đoạn điều tra, đồng ý với kết luận giám định và xin lỗi bị hại, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị hại tại phiên tòa: Quá trình điều tra đã có ghi lời khai của bị hại đầy đủ, việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên áp dụng khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại.

[3] Về nội dung vụ án: Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, hồ sơ bệnh án của bị hại, kết luận giám định về thương tật và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ 10 phút, ngày 03 tháng 5 năm 2022, tại quán Karaoke Ruby thuộc khóm 4, phường 2, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, do tức giận vì Thái Văn V nói chuyện không tôn trọng, đồng thời bị V đánh trước nên bị cáo Lê Tấn Đ có hành vi dùng ly thủy tinh có chiều cao 11cm, bán kính miệng ly rộng 7,5cm, bán kính đáy ly rộng 6,5cm, độ dày của kính 0,2cm đánh vào vùng đầu V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 64%.

[4] Bị cáo thực hiện hành vi nêu trên trong trạng thái đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức đươc hành vi gây tổn hại sức khỏe cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; hành vi bị cáo sử dụng ly thủy tinh có chiều cao 11cm, bán kính miệng ly rộng 7,5cm, bán kính đáy ly rộng 6,5cm, độ dày của kính 0,2cm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật là 64% đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố là có căn cứ.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến sức khỏe của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an của địa phương nên cần thiết phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo và qua đó cũng góp phần đấu tranh ngăn ngừa tội phạm.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra khi thực hiên hành vi phạm tội trên, bị cáo trong trạng thái bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều hơn hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất khung hình phạt là phù hợp với hành vi của bị cáo.

[7] Về vật chứng trong vụ án: Đối với 01 (một) ly thủy tinh, chiều cao 11cm, bán kính miệng ly rộng 7,5cm, bán kính đáy ly rộng 6,5cm, độ dày ly 0,2cm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu huỷ.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Tấn Đ đã bồi thường cho anh Thái Văn V số tiền 110.000.000 đồng, anh V không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9] Đối với hành vi nêu trên của bị cáo là dùng hung khí nguy hiểm đánh vào vùng đầu của bị hại là vùng trọng yếu của cơ thể con người theo hướng xéo từ trên xuống với thương tích 64% có dấu hiện cấu thành tội “Giết người”, thuộc trường hợp “Phạm tội chưa Đ” theo khoản 2 Ðiều 123, Ðiều 15 Bộ luật hình sự nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu đã trả hồ sơ điều tra bổ sung, tuy nhiên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Ðiều 134 Bộ luật Hình sự nên căn cứ khoản 1 Ðiều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố như trên.

[10] Đối với hành vi của Thái Văn V đánh bị cáo Đ bị trầy xước nhẹ, bị cáo Đ không yêu cầu xử lý và V cũng là bị hại của vụ án nên Cơ quan điều tra đã nhắc nhở, giáo dục là phù hợp.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Đ (L) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Tấn Đ (L) 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) ly thủy tinh, chiều cao 11cm, bán kính miệng ly rộng 7,5cm, bán kính đáy ly rộng 6,5cm, độ dày ly 0,2cm được niêm phong trong một gói niêm phong có chữ ký viết tên Lê Tấn Đ, Trần Ngọc Xuân, Điều tra viên Huỳnh Chí Nguyện và dấu giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bạc Liêu, gói niêm phong còn nguyên vẹn.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2023 ).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Tấn Đ phải nộp 200.000 đồng.

Án xử công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được tống Đ hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ