- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc T phạm tội - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/3/2023) về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày: 29/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nghệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thịnh và ông Đậu Cao Nhu
Thư ký phiên toà: Bà Phan Lệ Giang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hà Đức Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/TLHS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Hoàng Ngọc T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/07/1990 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm A, xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Hoàng Ngọc C, sinh năm 1959 và con bà: Phan Thị Th (đã chết); Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Cao Thị H, sinh năm 1990; Con: Có 02 người, con lớn nhất sinh 2018, con nhỏ nhất sinh 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2022 đến ngày 05/01/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Cao Thị H, sinh năm 1990. Có mặt.
Nơi cư trú: Xóm A, xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An.
+ Ông Phan Văn N, sinh năm 1966. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm B, xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An.
- Người chứng kiến: Ông Vũ Hồng C, sinh năm 1955. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu mua pháo về nổ dịp tết Nguyên đán năm 2023 nên vào khoảng ngày 20/12/2022, Hoàng Ngọc T lên mạng xã hội để tìm kiếm người bán pháo thì thấy có tài khoản Facebook có nick name là “Hồ Hữu B” đăng thông tin bán pháo nên đã nhắn tin thì biết người này ở huyện Quỳnh Lưu. T gọi điện thoại đặt mua của người này 03 (ba) bánh pháo loại 36 quả và 03 (ba) bánh pháo loại 49 quả với tổng số tiền 4.300.000đ (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng) thì người này đồng ý. Sau khi thỏa thuận người này giảm cho T 300.000 đồng và hẹn T đến tối ngày 27/12/2022 giao pháo tại xã B, huyện Q. Đến khoảng 18 giờ ngày 27/12/2022, T điều khiển xe mô tô BKS 37B2-263.69 đi từ thành phố V ra xã B, huyện Q để mua pháo. Khi đến địa phận xóm X, xã B thì T gặp một người đàn ông và người này chỉ tay vào một bì xác rắn màu vàng, sau khi mở ra kiểm tra thấy pháo thì T đưa cho người này số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) rồi cầm bì pháo đặt lên vị trí giá để hàng phía trước của xe mô tô rồi điều khiển xe đi về nhà, khi T đi được một đoạn thì bị đội CSGT-TT Công an huyện Quỳnh Lưu và Công an xã N phát hiện bắt quả tang. Thu giữ 01 (một) bì xác rắn màu vàng bên trong có chứa 03 bánh pháo loại 36 quả và 03 bánh pháo loại 49 quả cùng toàn bộ tang vật có liên quan.
Ngày 27/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu thành lập hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định xác định: 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật được bọc giấy nhiều màu sắc kích thước (16,5x16x10cm) “ký hiệu A8426”, 01 (một) khối hình hộp chữ nhật được bọc giấy nhiều màu sắc kích thước (14,5x14x10cm) “ký hiệu C0842” và 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật được bọc giấy nhiều màu sắc kích thước (14,5x14x10cm) “ký hiệu A8407” có tổng khối lượng là 09 kg (chín ki lô gam).
Tại bản kết luận giám định số 50/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 31/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Các mẫu vật (ký hiệu M1, M2, M3) thu giữ của Hoàng Ngọc T gửi giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ.
Cáo trạng số 49/CT-VKS-QL, ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Hoàng Ngọc T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c, khoản 1, Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s, khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng cát tông màu vàng được niêm phong đúng quy định bên trong có 01 (một) bì xác rắn màu vàng; 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy nhiều màu sắc có kích thước (16,5x16x10cm) “ký hiệu A8426” và 01 (một) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy nhiều màu sắc có kích thước (14,5x14x10cm) “ký hiệu A8407” còn lại sau khi lấy mẫu giám định.
Trả lại cho chị Cao Thị H 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu xanh đã qua sử dụng.
Trả lại cho anh Phan Văn N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 37B2-263.69, màu sơn trắng đen đã qua sử dụng.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Hoàng Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Lời nói sau cùng bị cáo thấy hành vi phạm tội là sai trái, nhất thời phạm tội. Đề nghị HĐXX xem xét để bị cáo có thể cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Hoàng Ngọc T đã có hành vi tàng trữ 09 kg pháo nổ. Hành vi của bị cáo thực hiện nêu trên phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của Hoàng Ngoc T xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý một số loại hàng hóa bị cấm. Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội cũng như tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Số lượng pháo tàng trữ của bị cáo ở trên mức khởi điểm, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe để bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- 01 (một) thùng cát tông màu vàng được niêm phong đúng quy định bên trong có 01 (một) bì xác rắn màu vàng; 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy nhiều màu sắc có kích thước (16,5x16x10cm) “ký hiệu A8426” và 01 (một) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy nhiều màu sắc có kích thước (14,5x14x10cm) “ký hiệu A8407” còn lại sau khi lấy mẫu giám định là hàng cấm cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu xanh đã qua sử dụng là tài sản của chị Cao Thị H, chị H không biết bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua pháo nổ nên trả lại cho chị H.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 37B2-263.69, màu sơn trắng đen đã qua sử dụng là tài sản của ông Phan Văn N. Ông N không biết biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để chở pháo nên trả lại cho ông Phan Văn N.
Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với người đàn ông bán pháo cho Hoàng Ngọc T, do T không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với số điện thoại 0898.603.864 là số điện thoại mà T đã liên lạc để mua pháo. Cơ quan điều tra đã có công văn yêu cầu xác minh thông tin nhưng đến nay chưa có kết quả, khi nào có kết quả sẽ điều tra xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 191, điểm i, s, khoản 1, Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/3/2023) về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Giao bÞ c¸o Hoàng Ngọc T cho UBND xã D, huyện C, tỉnh Nghệ an gi¸m s¸t, gi¸o dôc trong thêi gian thö th¸ch. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng cát tông màu vàng được niêm phong đúng quy định bên trong có 01 (một) bì xác rắn màu vàng; 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy nhiều màu sắc có kích thước (16,5x16x10cm) “ký hiệu A8426” và 01 (một) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy nhiều màu sắc có kích thước (14,5x14x10cm) “ký hiệu A8407” còn lại sau khi lấy mẫu giám định.
Trả lại cho chị Cao Thị H 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu xanh đã qua sử dụng.
Trả lại cho anh Phan Văn N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 37B2-263.69, màu sơn trắng đen đã qua sử dụng.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT công an huyện Quỳnh Lưu và Chi cục Thi hành án dân sự hồi 14 giờ ngày 23/02/2023).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Hoàng Ngọc T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - VKSND h.Quỳnh Lưu; - Cơ quan điều tra h.Quỳnh Lưu; - Cơ quan THA hình sự h.Quỳnh Lưu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu; - UBND xã D; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nghệ |