vanban.org

Bản án 51/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phạm Vũ Y, Đặng Hoài P, Lê Minh Đ, Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phạm Vũ Y 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Vũ Y và ĐP -“ Cố ý gây thương tích”. - phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điều 134 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Vũ Y, Đặng Hoài P, Lê Minh Đ, Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HS-ST
Ngày: 17/3/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Chương.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Văn Chính - Cán bộ hưu trí.

2/ Bà Lê Thị Khanh - Nguyên hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Trung Mỹ Tây.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/ QĐXXST- HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Phạm Vũ Y, (tên gọi khác K) sinh ngày 01/01/2001 tại tỉnh Cà Mau; thường trú: ấp X, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Minh H và bà Nguyễn Tuyết Đ; bản thân chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/10/2022 (hiện đang tạm giam tại công an huyện Hóc Môn). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Lê Minh Đ, sinh ngày 11/5/2004 tại tỉnh Cà Mau; thường trú: ấp R, xã R1, huyện P, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Phước Đ và bà Kiều Thị T; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/10/2022 (hiện đang tạm giam tại công an huyện Hóc Môn). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3/ Đặng Hoài P sinh ngày 23/9/2004 tại tỉnh Tây Ninh; thường trú: Khu phố A, phường A1, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn H và bà Huỳnh Thị Bí; bản thân chưa có vợ con; nhân thân: Ngày 03/01/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh khởi tố về hành vi “Cố ý gây thương tích”; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/10/2022 (hiện đang tạm giam tại công an huyện Hóc Môn). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4/ Thái Văn T, sinh ngày 01/9/2005 tại tỉnh Đồng Tháp; thường trú: tổ 7, ấp T, xã T1, huyện T2, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ họ tên và bà Thái Thị Mỹ L; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/10/2022 (hiện đang tạm giam tại công an huyện Hóc Môn). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5/ Phạm Quốc K, sinh ngày 24/5/2006 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: ấp Hòa Bạch, xã Hòa Tú 2, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Hoài (chết) và bà Nguyễn Thị N; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/10/2022 (hiện đang tạm giam tại công an huyện Hóc Môn). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

6/ Dương Chí B, sinh ngày 20/11/2005 tại tỉnh Hậu Giang; thường trú: ấp 7A2, xã V, huyện V1, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Phước Ng và bà Nguyễn Thị H; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/10/2022 (hiện đang tạm giam tại công an huyện Hóc Môn). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

* Người bị hại: Anh Lê Nguyễn Anh T, sinh năm: 2005 (có mặt)

Đại diện hợp pháp của Lê Nguyễn Anh T: bà Lê Thị Lệ Th, sinh năm 2002

Cùng địa chỉ: khu phố 5, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.(chị ruột có mặt)

Đại diện hợp pháp của bị cáo Thái Văn T, sinh năm: 01/9/2005

Bà Thái Thị Mỹ L, sinh năm: 1985 (mẹ ruột có mặt).

Địa chỉ: Khu dân cư H, Thành phố Th, tỉnh Bình Dương.

Đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quốc K, sinh ngày 24/5/2006

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1978 (mẹ ruột có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Hòa Bạch, xã Hòa Tú 2, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng

Đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Chí B, sinh ngày 20/11/2005

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1975 (mẹ ruột có mặt).

Địa chỉ: ấp 7A2, xã V1, huyện V2, tỉnh Hậu Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Võ Quốc T, sinh năm: 29/12/2006 (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị N2, sinh năm: 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 1, khu phố P, phường H, Thị xã B, thành phố Bình Dương, tỉnh Bình Dương.

2/ Anh Nguyễn Kim T2, sinh năm: 15/11/2006 (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp: Võ Thị Kim H, sinh năm:1961 (vắng mặt)

Địa chỉ: Chung cư H, phường H, thành phố M, tỉnh Bình Dương.

3/ Anh Trần Chí Thanh Ph, sinh năm: 03/11/2006 (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp: Trần Thị Nh, sinh năm:1977

Địa chỉ: khu phố P, phường H, Thị xã B, thành phố Bình Dương, tỉnh Bình Dương.

- Người Bào chữa cho bị cáo Thái Văn T và bị cáo Phạm Quốc K có luật sư Nguyễn Khắc H là cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

Địa chỉ: 470 N, phường 9, quận 10, Tp. Hồ Chí Minh.

- Người Bào chữa cho bị cáo Dương Chí B có luật sư Vũ Văn T3 là cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

Địa chỉ: 470 N, phường 9, quận 10, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Vũ Y, Đặng Hoài P, Lê Minh Đ là những thanh cùng cư trú tại nhà số 160E Nguyễn Văn C tổ 17, khu K, thị trấn L, huyện L tỉnh Đồng Nai với Nguyễn Anh T và N, L, Nh (không rõ nhân thân lai lịch) làm tiếp viên tự do phục vụ bia cho các quán karaoke trên địa bàn huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Vào tối ngày 21/10/2022, Nguyễn Anh T nói chuyện điện thoại với Lê Nguyễn Anh T thì Đặng Hoài P nghe được nội dung T2 trêu ghẹo T và T2 nói cho T biết nhóm của N, L, Nh dọa đánh T nên Phong nhờ T2 cung cấp thông tin chỗ ở của N, L, Nh nhưng T2 không cung cấp thông tin liên quan. Y lợi dụng mối quen biết của T với T2 để dùng tài khoản Facebook “Cậu Ba” kết bạn với T2 đồng thời nhờ T lấy vị trí định vị của T2 với lý do muốn gặp T2 đi uống cà phê nên T2 đã gửi vị trí hẹn gặp Y tại tiệm Nét nhà số 98C tổ 13 ấp 6, xã X, huyện H vào sáng ngày 22/10/2022.

Trong đêm 21/10/2022, rạng sáng ngày 22/10/2022, Y gọi điện thoại cho Thái Văn T rủ thêm người, chuẩn bị hung khí để đi đánh T2. T1 liền gọi Trần Thanh Chí P (sinh ngày 03/11/2006) và Nguyễn Kim T2 (sinh ngày 15/11/2006) rủ hai người này tham gia đi đánh nhau và kêu Chí P, Th3 rủ thêm người tham gia đi đánh nhau. Chí P là người rủ thêm được Võ Qốc Thái (sinh ngày 29/12/2006), Nguyễn Trường Cảnh (sinh ngày 30/11/2006), Nguyễn Văn Tính (sinh ngày 10/11/2007). Th3 rủ Phạm Quốc K (sinh ngày 24/05/2006), Dương Chí B (sinh ngày 20/11/2005) cùng tham gia đi đánh nhau.

Khoảng 06 giờ 30 ngày 22/10/2022, Y thuê xe ô tô 5 chỗ màu trắng (không rõ biển số) đi cùng với Hoài P, Đ mang theo 02 cây dao tự chế từ Đồng Nai đến quán cà phê “Gi” thuộc phường H thị xã B, tỉnh Bình Dương. Tại đây, Y thuê thêm xe ô tô 16 chỗ biển số 61B-027.46 do Trương Phúc Vĩnh Th làm tài xế để chở Y cùng T1, K, B, C, Th3, Chí P, Thái, Tính cùng nhau đi đến huyện Hóc Môn theo định vị của T2 gửi cho Y để đánh T2. Phong và Đức đi xe ô tô 5 chỗ mang theo hung khí là 05 dao tự chế (02 dao của nhóm Y mang theo và 03 dao tự chế của nhóm T1 chuẩn bị) chạy theo sau. Y dùng điện thoại có ảnh của T2 cho tất cả những người bên nhóm T1 xem để nhận dạng được người cần tìm đánh. Trên đường đi đến cửa hàng đồ gia dụng số 186/1C Dương Công Kấp T3, xã T4, huyện H thì Phạm Vũ Y mua thêm 05 cây gỗ để làm hung khí cho nhóm T1 sử dụng đánh nhau.

Đến khoảng 10 giờ 20 ngày 22/10/2022, Y đến trước nhà số 98C tổ 13 ấp 6, xã X, huyện H và điện thoại cho T2 đi ra gặp mặt để hỏi thông tin về nơi ở của N, L, Nh nhưng T2 nói không biết. Lúc này, Hoài P, Đ, T1, K, B, C, Th3, Chí P, Th, T cùng xuống xe đi theo để sẵn sàng đánh nhau và thấy Y ra hiệu thì nhóm T1 lấy hung khí trên xe ô tô 5 chỗ để cùng nhau đánh T2. T1 cầm cây dao phóng lợn chém trúng vùng vai trái của T2 02 cái khi T2 đang đứng trước cửa tiệm nét, tiếp đến Th cầm cây gỗ đánh trúng vào cánh tay phải của T2 nên T2 lùi vào trong nhà khu vực để xe máy, Chí P cầm dao tự chế có cán tròn dài khoảng 20cm bằng inox, lưỡi dao dài khoảng 60cm bản to có cạnh sắc, mũi vác nhọn xông vào nhà chém trúng vào vai trái của T2, T1 tiếp tục xông vào vung dao lên chém xuống vào người T2 nên T2 liền dùng tay phải chống đỡ và bị lưỡi dao chém trúng vào ngón cái bàn tay phải gây ra thương tích, mất sức chống cự. Sau đó, Chí P dùng dao chém liên tục vào vùng lưng của T2 nhiều nhát nữa nhưng chỉ gây ra vài vết rách da và một số vết xây xát da. Trong lúc T1, Th, Chí P đánh, chém T2 thì Y, Hoài P, Đ không cầm gì cùng Th3 cầm dao tự chế, Bảo, K, C, T cầm cây gỗ đứng bên ngoài dùng số đông uy hiếp, cổ vũ tinh thần để hỗ trợ. Diễn biến vụ việc Lê Nguyễn Anh T bị vây chém diễn ra trong khoảng 01 phút (thời gian theo camera ghi nhận từ lúc 10:21:32 phút đến 10:22:06 phút ngày 22/10/2022) thì nhóm của Y nhanh chóng bỏ chạy khỏi hiện trường. Lê Nguyễn Anh T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Xuyên Á đến ngày 28/10/2022 xuất viện.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 992/TgT.22 ngày 02/12/2022 Trung tâm Pháp Y TP. Hồ Chí Minh đối với thương tích của Lê Nguyễn Anh T kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương vùng bả vai phải đã được điều trị, hiện còn một sẹo kích thước 4,8x(0,2-0,4)cm và hình ảnh gãy xương vai ngay dưới vị trí vết thương trên phim chụp cắt lớp vi tính.

Có tỉ lệ 07% (Bảy phần trăm).

- Vết thương gây đứt gần lìa khớp liên đốt xa ngón I tay phải, đứt gân gấp ngón I, gãy nền đốt xa, chỏm đốt gần ngón I được điều trị mở rộng vết thương, khâu gân da, hiện còn:

+ Một sẹo trùng sẹo mổ kích thước 9,2x(0,1-0,5)cm.

+ Hình ảnh gãy xương trên phim chụp Xquang.

+ Hình ảnh đứt hoàn toàn gân gấp ngón I trên siêu âm.

+ Hạn chế gấp khớp liên đốt.

Có tỉ lệ 08% (Tám phầm trăm).

Hai vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.

- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn các sẹo tại:

+ Mặt sau vai cánh tay trái kích thước 4,2x(0,4-0,8)cm.

Có tỉ lệ 02% (Hai phần trăm).

+ Vùng thắt lưng trái kích thước 3,8x(0,1-0,3)cm có đuôi tận nông là vết tăng giảm sắc tố kích thước 2,7x0,1cm.

Có tỉ lệ 01% (Một phần trăm).

+ Vùng hông lưng phải kích thước 4,2x(0,2-0,5)cm có đuôi tận nông là vết tăng giảm sắc tố kích thước 2,4x0,1cm.

Có tỉ lệ 02% (Hai phần trăm).

+ Vùng trước hố nách trái thước 4,8x0,2cm.

Có tỉ lệ 01% (Một phần trăm).

+ Mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải có kích thước 1,5x(0,1-0,3)cm có đuôi tận nông là vết tăng giảm sắc tố kích thước 1,5x0,1cm.

Có tỉ lệ 01% (Một phần trăm).

Năm thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

Theo Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 28/10/2022 ghi nhận thêm, hiện còn các vết tăng giảm sắc tố tại:

+ Vùng lưng trên phải kích hước 8,3x(0,1-0,3)cm.

+ Vùng hông lưng phải kích thước 7x0,1cm.

+ Mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải kích thước 9,1x0,1cm

+ Mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái kích thước 3,8x0,1cm và 6,5x(0,1-0,4)cm

+ Mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải có kích thước 4,3x0,1cm

+ Mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái có kích thước 5,2x0,1cm.

Có tỉ lệ 0,5% mỗi vết.

Bảy thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

Cộng các tỷ lệ trên theo Qui định tại Thông tư 22/2019/TT-BYT sẽ ra tỉ lệ 23% (Hai mươi ba phần trăm).

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:

Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 23% (Hai mươi ba phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Tất cả các thương tích trên không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

- Thông tư 22/2019/TT-BYT không qui định về:

+ Cố tật.

+ Tính thẩm mỹ đối với trường hợp này.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Phạm Vũ Y, Đặng Hoài P, Lê Minh Đ, Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B, Nguyễn Trường Cảnh, Nguyễn Kim T2, Trần Thanh Chí P, Võ Quốc T khai nhận hành vi phạm tội như trên. Kết quả điều tra, xác minh xác định Nguyễn Trường Cảnh, Nguyễn Kim T2, Trần Thanh Chí P, Võ Quốc T, Nguyễn Văn Tính là người chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trên.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ tại hiện trường:01 khúc cây gỗ dài 100cm;01 dao tự chế dài 40cm.

- Thu giữ của Phạm Vũ Y: 01 cây dao tự chế màu đen dài khoảng 70cm, bản dao khoảng 3cm; 01 cây dao tự chế dài khoảng 75cm, bản dao khoảng 3,5cm có cán bằng gỗ; 01 cây dao tự chế dài khoảng 60cm, bản dao khoảng 4cm có cán màu vàng; 01 cây dao tự chế dài khoảng 100cm lưỡi dao dài khoản 20cm, cán ống tròn dài khoảng 80cm; 01 cây gỗ tròn dài khoảng 100cm; 01 điện thoại di động Iphone 13.

- Thu giữ của Lê Minh Đ: 01 điện thoại di động Iphone Xsmax.

- Thu giữ của Đặng Hoài P: 01 điện thoại di động Oppo.

- Thu giữ của Thái Văn T: 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus.

- Thu giữ của Võ Quốc T: 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus.

- Thu giữ của Nguyễn Kim T2: 01 điện thoại di động Iphone X.

- Thu giữ của Trần Chí Thanh Ph: 01 điện thoại di động Redmi.

- Kèm hồ sơ: 01 USB chứa dữ liệu điện tử ghi lại hình ảnh vụ việc.

Về dân sự: Người bị hại Lê Nguyễn Anh T đã được bà Thái Thị Mỹ L là mẹ của bị cáo Thái Văn T bồi thường số tiền 30.000.000đ điều trị thương tích, gia đình của bị cáo Phạm Vũ Y hỗ trợ số tiền là 1.000.000đ chi phí thuê xe đi lại điều trị thương tích, gia đình của bị cáo Lê Minh Đ bồi thường số tiền 15.000.000đồng, gia đình của bị cáo Dương Chí B bồi thường số tiền 4.000.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKS-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Phạm Vũ Y, Lê Minh Đ, Đặng Hoài P, Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với người bị hại và đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như sau:

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Vũ Y từ 02(hai) năm 06(sáu) tháng 03(ba) năm tù.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Minh Đ từ 01(một) năm đến 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Hoài P từ 01(một) năm 06(sáu) tháng đến 02(hai) năm tù.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; điểm o, khoản 1 Điều 52, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thái Văn T từ 01(một) năm 06(sáu) tháng 02(hai) năm tù.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Quốc K từ 01(một) năm đến 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Chí B từ 01(một) năm đến 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 khúc cây gỗ dài 100cm, 01 dao tự chế dài 40cm, 01 cây dao tự chế màu đen dài khoảng 70cm, bản dao khoảng 3cm, 01 cây dao tự chế dài khoảng 75cm, bản dao khoảng 3,5cm có cán bằng gỗ, 01 cây dao tự chế dài khoảng 60cm, bản dao khoảng 4cm có cán màu vàng, 01 cây dao tự chế dài khoảng 100cm lưỡi dao dài khoản 20cm, cán ống tròn dài khoảng 80cm, 01 cây gỗ tròn dài khoảng 100cm và buộc các bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Nguyễn Anh T theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự.

- Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 13, 01 điện thoại di động Iphone Xsmax, 01 điện thoại di động Oppo, 02 điện thoại di động Iphone 8 Plus, 01 điện thoại di động Iphone X, 01 điện thoại di động Redmi do liên quan đến việc phạm tội.

Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Vũ Y, Lê Minh Đ, Đặng Hoài P, Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ.

Luật sư Nguyễn Khắc H bào chữa cho bị cáo Thái Văn T và bị cáo Phạm Quốc K phát biểu:

Đồng ý về tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Tại phiên tòa bị cáo Thuận và bị cáo K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, và đã khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn bãi nại, bị cáo T1 và bị cáo K phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, hiện nay gia đình các bị cáo rất khó khăn. Riêng bị cáo T1 từ nhỏ phải sống mồ côi không có cha nên thiếu sự quan tâm chăm sóc của gia đình. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015( được sửa đổi bổ sung năm 2017) cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị.

Luật sư Vũ Văn T3 bào chữa cho bị cáo Dương Chí B phát biểu:

Đồng ý về tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Tại phiên tòa bị cáo Bảo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, và đã khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn bãi nại, bị cáo Bảo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, khi phạm tội bị cáo đang ở độ tuổi vị thành niên nên việc nhận thức về pháp luật còn hạn chế, hiện nay gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo không gây thương tích cho bị hại, vai trò của bị cáo chỉ cổ vũ tinh thần cho các bị cáo khác. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015( được sửa đổi bổ sung năm 2017) cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bị hại;Người bào chữa cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo; Luật sư, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Phạm Vũ Y, Lê Minh Đ, Đặng Hoài P, Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B khai nhận hành vi phạm tội Cố ý gây thương tích của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, bản kết luận giám định pháp y cùng các lời khai và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 20 ngày 22/10/2022, các bị cáo Phạm Vũ Y, Lê Minh Đ, Đặng Hoài P, Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B có hành vi dùng hung khí gây thương tích cho anh Lê Nguyễn Anh T với tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 23% (Hai mươi ba phần trăm).

[3] Hành vi dùng dao gây nên thương tích cho người bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 23% nêu trên của các bị cáo Phạm Vũ Y, Lê Minh Đ, Đặng Hoài P, Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử các bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

[4] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là táo bạo và thực sự nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang, lo ngại cho quần chúng nhân dân và dư luận xấu trong xã hội, Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, không có sự bàn bạc từ trước, trong vụ án này bị cáo Phạm Vũ Y với vai trò là người khởi xướng rủ rê lôi kéo các bị cáo khác tham gia phạm tội, bị cáo Thái Văn T là người trực tiếp thực hiện hành vi gây thương tích cho người bị hại; các bị cáo Phạm Quốc K, Dương Chí B cầm cây gổ đứng ngoài cổ vũ tinh thần, các bị cáo Lê Minh Đ, Đặng Hoài P đi theo đứng ngoài là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Do đó, Hội đồng xét xử cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo để đảm bảo tính răn đe của pháp luật, giáo dục phòng ngừa chung và cải tạo giáo dục riêng đối với các bị cáo. Khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét:

[5] Xét về tình tiết tăng nặng: các bị cáo Phạm Vũ Y, Thái Văn T xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lê Minh Đ, Đặng Hoài P, Phạm Quốc K, Dương Chí B không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo Lê Minh Đ, Thái Văn T, Dương Chí B đã khắc phục hậu qủa bồi thường cho người bị hại số tiền 49.000.0000đồng và người bị hại đã có đơn bãi nại, bị cáo Phạm Vũ Y bồi thường 1.000.000đồng, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy nên áp dụng điểm b, điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51 Bộ luật hình sự có phần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Lê Minh Đ, Thái Văn T, Dương Chí B. Áp dụng điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51 Bộ luật hình sự có phần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Phạm Vũ Y, Đặng Hoài P, Phạm Quốc K. Từ đó, cần xem xét áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo Lê Minh Đ và Đặng Hoài P. Ngoài ra khi phạm tội, các bị cáo Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B chưa thành niên nên còn được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội theo Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự.

Đối với Nguyễn Trường Cảnh, Nguyễn Kim T2, Trần Thanh Chí P, Võ Quốc T, Nguyễn Văn Tính là người chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với Nguyễn Anh T chỉ biết việc bị cáo Y đi tìm T2 là để hỏi thông tin về nơi ở của N, L, Nh (không rõ họ tên) là những người bị cáo Y đang muốn tìm và không biết việc bị cáo Y dẫn theo nhiều người, mang theo hung khí đi đánh T2 gây ra thương tích. Hành vi của Nguyễn Anh T không có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo Y.

Đối với Trương Phúc Vĩnh Th là tài xế xe ô tô biển số 61B-027.46 chạy dịch vụ theo hợp đồng được bị cáo Phạm Vũ Y thuê chở nhóm bị cáo Thái Văn T đi từ Bình Dương đến huyện Hóc Môn không biết mục đích của các đối tượng đi đến Hóc Môn để đánh nhau. Hành vi của Thịnh không có dấu hiệu đồng phạm trong vụ án này.

Đối với tài xế chạy xe 05 chỗ, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

[8] Về trách nhiệm dân sự. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Người bị hại anh Lê Nguyễn Anh T đã nhận đủ tiền bồi thường của các bị cáo Lê Minh Đ, Thái Văn T, Dương Chí B, đồng thời không yêu cầu bị cáo Phạm Quốc K bồi thường và có đơn bãi nại cho các bị cáo nói trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa đại diện người bị hại yêu cầu bị cáo Phạm Vũ Y bồi thường số tiền 20.000.000đ, bị cáo Đặng Hoài P bồi thường số tiền 5.000.000đ. Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Vũ Y, Đặng Hoài P cũng đồng ý bồi thường cho anh T2 số tiền nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của anh T2 và sự tự nguyện của các bị cáo Y và Phong là chính đáng, đúng với quy định pháp luật nên chấp nhận và buộc bị cáo Phạm Vũ Y bồi thường cho anh T2 số tiền 20.000.000đồng, bị cáo Đặng Hoài P bồi thường cho anh T2 số tiền 5.000.000đồng.

[9] Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Đối với 02 khúc cây gỗ dài 100cm, 01 dao tự chế dài 40cm, 01 cây dao tự chế màu đen dài khoảng 70cm, bản dao khoảng 3cm, 01 cây dao tự chế dài khoảng 75cm, bản dao khoảng 3,5cm có cán bằng gỗ, 01 cây dao tự chế dài khoảng 60cm, bản dao khoảng 4cm có cán màu vàng, 01 cây dao tự chế dài khoảng 100cm lưỡi dao dài khoản 20cm, cán ống tròn dài khoảng 80cm là công cụ phuơng tiện phạm tội và vật không có giá trị nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 của bị cáo Phạm Vũ Y, 01 điện thoại di động Iphone Xsmax của bị cáo Lê Minh Đ, 01 điện thoại di động Oppo của bị cáo Đặng Hoài P, 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus của bị cáo Thái Văn T, 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus của bị cáo Võ Quốc T, 01 điện thoại di động Iphone X của bị cáo Nguyễn Kim T2, 01 điện thoại di động Redmi của bị cáo Trần Chí Thanh Ph liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

[10] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Riêng các bị cáo Phạm Vũ Y, Đặng Hoài P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Vũ Y, Đặng Hoài P, Lê Minh Đ, Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; điểm o, khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 32, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Vũ Y 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2022.

- Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; khỏan 2 Điều 54; các Điều 17, 32, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Hoài P 01(một) năm 03(ba) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2022.

- Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; khỏan 2 Điều 54; các Điều 17, 32, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Minh Đ 06(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2022.

- Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; điểm o, khoản 1 Điều 52; Điều 91, khoản 1 Điều 101; các Điều 17, 32, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Thái Văn T 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2022.

- Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101; các Điều 17, 32, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Quốc K 01(một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2022.

- Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101; các Điều 17, 32, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Chí B 01(một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2022.

- Áp dụng điểm a, khỏan 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Áp dụng điểm a, điểm c khỏan 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 khúc cây gỗ dài 01m, 01 dao tự chế dài 40cm; 01 cây dao tự chế màu đen dài khoảng 70cm, bản dao khoảng 3cm; 01 cây dao tự chế dài khoảng 75cm, bản dao khoảng 3,5cm có cán bằng gỗ; 01 cây dao tự chế dài khoảng 60cm, bản dao khoảng 4cm có cán màu vàng; 01 cây dao tự chế dài khoảng 100cm lưỡi dao dài khoản 20cm, cán ống tròn dài khoảng 80cm.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 13; 01 điện thoại di động Iphone Xsmax; 01 điện thoại di động Oppo; 02 điện thoại di động Iphone 8 Plus; 01 điện thoại di động Iphone X; 01 điện thoại di động Redmi.

(Tang vật được ghi theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh).

- Áp dụng Điều 357; Điều 590 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Phạm Vũ Y bồi thường cho anh Lê Nguyễn Anh T số tiền 20.000.000đ(hai mươi triệu đồng), bị cáo Đặng Hoài P phải bồi thường cho anh Lê Nguyễn Anh T số tiền 5.000.000đ(năm triệu đồng) thi hành một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật, thực hiện tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành đối với khoản tiền bồi thường, hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Vũ Y, Lê Minh Đ, Đặng Hoài P, Thái Văn T, Phạm Quốc K, Dương Chí B mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Riêng bị cáo Phạm Vũ Y phải nộp 1.000.000đ(một triệu đồng), bị cáo Đặng Hoài P phải nộp 300.000đ(ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, luật sư bào chữa cho các bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để xin xét xử phúc thẩm. Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản sao bản án.

Cỡ chữ