vanban.org

Bản án 51/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H 04 (Bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/02/2023. Xử phạt: Bị cáo Lê Công Đ 04 (Bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn H và đồng phạm bị xử phạt về tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 51/2023/HS-ST
Ngày 30 – 5 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Hữu Đồng – Cán bộ nghỉ hưu.

- Bà Trần Thị Minh Hợi – Giáo viên nghỉ hưu.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hường – Thư ký của Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Hợi - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2023/TLST-HT ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Phan Văn H, sinh ngày 08/5/199x tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nơi thường trú: Xóm X, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn S và bà Vương Thị L; vợ và con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2019/HSST ngày 27/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/11/2020 và đã được xóa án tích. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2023 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Công Đ, sinh ngày 12/10/199 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nơi thường trú: Xóm Y, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công T và bà Vương Thị H; vợ và con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 02/7/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 22/2021/QĐ-TA với thời hạn là 18 (Mười tám) tháng; đã chấp hành xong vào ngày 28/10/2022; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2023 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cháu Dương Anh Q. Sinh ngày 20/8/200x. Địa chỉ: xóm ĐĐ, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người giám hộ của cháu Dương Anh Q: Ông Dương Trọng L, sinh năm 197x và bà Nguyễn Thị Minh. Địa chỉ: Xóm ĐĐ, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Đều vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Công M. Sinh năm 198x. Địa chỉ: Xóm B, xã ĐT, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Nguyễn Hữu Ph. Sinh năm 198x. Địa chỉ: Xóm RB, xã ST, huyện YT, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Cháu Thái Doãn Nh. Sinh ngày 10/10/200x. Địa chỉ: Xóm ĐĐ, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người giám hộ của cháu Thái Doãn Nh: Bà Nguyễn Thị M. Sinh năm 197x. Địa chỉ: Xóm ĐĐ, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 17/02/2023, Lê Công Đ (Sinh năm 199x. Trú tại xóm Y, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Nghệ An) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 52X1- 6814 (Chiếc xe mô tô này là của anh Lê Công M, sinh năm 198x. Trú tại xóm Y, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Nghệ An; là anh trai của Đ) đi từ nhà ở của Đ tại xóm 2, xã Đại Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đến nhà của Phan Văn H (Sinh năm 199x. Trú tại xóm X, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Nghệ An). Khi sang đến nhà H, Lê Công Đ nói với H ‘‘Ta đi chơi tý hầy’’, ý của Đ là nói với H đi dạo tý thì Phan Văn H đồng ý và H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 52X1-6814, còn Đ ngồi sau xe mô tô và bắt đầu đi theo hướng vào xã Mỹ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Khi đi đến địa phận thuộc xã Mỹ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, Phan Văn H nói với Lê Công Đ ‘‘Ta đi mần tý hầy’’, ý của H nói với Đ là cả hai lái xe đi tìm sơ hở để trộm cắp tài sản hoặc cướp giật tài sản để lấy tài sản bán tiêu xài cá nhân. Khi nghe H nói xong thì Đ trả lời ‘‘Ừ’’, có nghĩa là Đ hiểu ý của H nói đi tìm sơ hở để trộm cắp hoặc cướp giật tài sản và đồng ý. Tiếp đó, Phan Văn H điều khiển xe mô tô đi theo hướng rẽ vào đường quốc lộ 7B đi qua xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và di chuyển theo quốc lộ 7B đi lên các xã Quang Sơn, Thái Sơn, Tân Sơn, Thịnh Sơn thuộc huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, khi di chuyển đến khu vực tại khu vực ngã tư quốc lộ 7B (cạnh nhà xe Lộc Thủy) thuộc xóm Thịnh Tâm, xã Thịnh Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Phan Văn H và Lê Công Đ phát hiện có 01 (Một) nam thanh niên (cháu Dương Anh Q, sinh ngày 20/8/200x. Trú tại xóm ĐĐ, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An) là học sinh ngồi sau xe đạp điện của 01 (Một) nam thanh niên và xe đạp điện này bị hỏng nên được bạn đi xe mô tô dùng chân để đẩy. Khi thấy nam thanh niên (cháu Dương Anh Q) ngồi sau xe đạp điện đang sử dụng chiếc điện thoại di động màu đen, Phan Văn H nói với Lê Công Đ: ‘‘Có cấy điện thoại’’, ý của H nói với Đ là nhìn thấy Dương Anh Q ngồi sau xe đạp điện đang sử dụng chiếc điện thoại, Đ trả lời: ‘‘Tiến lên’’, ý là điều khiển xe mô tô tiến lên để áp sát và cướp giật chiếc điện thoại. Khi Đ nói xong, H đồng ý và bắt đầu điều khiển xe mô tô áp sát vào phía bên phải của xe Dương Anh Q. Khi H điều khiển xe mô tô áp sát đi ngang hàng với Dương Anh Q đang cầm điện thoại thì Lê Công Đ đã dùng tay trái của mình cướp giật 01 (Một) chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen từ tay của Dương Anh Q ngồi sau xe đạp điện. Khi cướp giật được chiếc điện thoại xong, Phan Văn H tiếp tục điều khiển xe mô tô chở theo Lê Công Đ bỏ chạy theo hướng xuống xã Hòa Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và đi vòng theo đường đê sông Đào đi về xã Đại Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Sau đó, vòng ra đường quốc lộ 7A đi xuống xã Bảo Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An để bán chiếc điện thoại di động vừa mới cướp giật được cho ông Nguyễn Hữu Ph (Sinh năm 198x. Trú tại xóm RB, xã ST, huyện YT, tỉnh Nghệ An; là chủ cửa hàng mua, bán điện thoại) với giá 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng), ông Phi không biết chiếc điện thoại di động này do Phan Văn H và Lê Công Đ phạm tội mà có. Khi Đ bán xong chiếc điện thoại, Đ chia đôi số tiền rồi đưa cho H 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi ngàn đồng). Sau đó Phan Văn H và Lê Công Đ đi về nhà của mình tại xã Đại Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật vào các ngày 19, 20/02/2023 Phan Văn H và Lê Công Đ đã lần lượt đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An để đầu thú.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/KLĐG ngày 22 tháng 02 năm 2023, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của UBND huyện Đô Lương kết luận: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen có số Imel 355835082119687 đã qua sử dụng có giá trị là 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

Với nội dung trên, Cáo trạng số 52/CT-VKS-ĐL ngày 13/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An quyết định truy tố Phan Văn H, Lê Công Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên Cáo trạng, quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn H mức án từ 04 (Bốn) năm tù đến 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; xử phạt bị cáo Lê Công Đ mức án từ 04 (Bốn) năm tù đến 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Buộc bị cáo Phan Văn H, Lê Công Đ mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 350.000 đồng (Ba trăm, năm mươi nghìn đồng) cho ông Nguyễn Hữu Ph. Đề nghị xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Các bị cáo Phan Văn H, Lê Công Đ đều không có ý kiến tranh luận; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Các bị cáo đồng ý mỗi bị cáo bồi thường số tiền 350.000 đồng (Ba trăm, năm mươi nghìn đồng) cho ông Nguyễn Hữu Ph.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra những người này đã khai báo trình bày ý kiến đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố; Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với Kết luận định giá của Hội đồng định giá, do đó có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 16 giờ 40 phút ngày 17/02/2023 tại khu vực ngã tư quốc lộ 7B (Cạnh nhà xe Lộc Thủy) thuộc xóm Thịnh Tâm, xã Thịnh Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Phan Văn H và Lê Công Đ đã sử dụng phương tiện là xe mô tô để thực hiện hành vi cướp giật 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus của cháu Dương Anh Q (Sinh ngày 20/8/200x. Trú tại xóm ĐĐ, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An) có giá trị là 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Việc các bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện để thực hiện hành vi cướp giật tài sản nêu trên là phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Phan Văn H, Lê Công Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; các bị cáo đầu thú khai báo về hành vi phạm tội của bản thân – đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, hành vi phạm tội và hình chính: Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của bị hại; gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội nói chung và trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An nói riêng.

Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được hành vi của mình là gây nguy hiểm cho xã hội nhưng do bản thân không chịu lao động mà muốn được hưởng thụ nên cố tình thực hiện tội phạm, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm minh và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt chính: Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm, trong đó Phan Văn H là người chủ mưu, khởi xướng; Lê Công Đ là người có vai trò giúp sức, thực hiện tích cực. Xét các bị cáo đều có nhân thân xấu, vai trò của các bị cáo tương đương nhau nên cần xử phạt mức án bằng nhau như đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus mà các bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thu hồi, trả lại cho cháu Dương Anh Q; cháu Quân và người giám hộ của cháu Dương Anh Q không có yêu cầu bồi thường gi thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) là tiền các bị cáo hưởng lợi từ việc bán cho ông Nguyễn Hữu Ph chiếc điện thoại Iphone 7Plus: Hội đồng xét xử thấy rằng ông Nguyễn Hữu Ph khi mua chiếc điện thoại này thì không biết đây là tài sản mà các bị cáo thực hiện tội phạm mà và ông Phi có yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền này nên cần buộc các bị cáo phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Hữu Ph, cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Hữu Ph số tiền 350.000 đồng (Ba trăm, năm mươi nghìn đồng).

Về vật chứng: Đối với các vật chứng gồm 01 (Một) áo khoác bò, 01 (Một) đôi dép cao su màu đen trắng, 01 (Một) áo khoác màu đen, 01 (Một) quần vải, 01 (Một) đôi dép cao su màu đen thu giữ từ các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 52X1-6814: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã xác minh làm rõ đây là tài sản của ông Lê Công M (Sinh năm 198x. Trú tại xóm Y, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Nghệ An) và ngày 17/02/2023 thì ông Lê Công M cho Lê Công Đ mượn chiếc xe mô tô này để đi chơi; ông Lê Công M không biết việc Lê Công Đ và Phan Văn H sử dụng chiếc xe mô tô này để thực hiện tội phạm, do đó cần trả lại chiếc xe mô tô này cho ông Lê Công M theo quy định pháp luật.

Trong vụ án này, ông Nguyễn Hữu Ph đã mua chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus từ Lê Công Đ nhưng ông Phi không biết được chiếc điện thoại này là do Phan Văn H, Lê Công Đ thực hiện tội phạm mà có nên hành vi của ông Nguyễn Hữu Ph không bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H 04 (Bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/02/2023.

Xử phạt: Bị cáo Lê Công Đ 04 (Bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 20/02/2023.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo Phan Văn H, Lê Công Đ.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015. Buộc bị cáo Phan Văn H phải bồi thường cho ông Nguyễn Hữu Ph (Sinh năm 198x. Địa chỉ xóm RB, xã ST, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An) số tiền 350.000 đồng (Ba trăm, năm mươi nghìn đồng).

Buộc bị cáo Lê Công Đ phải bồi thường cho ông Nguyễn Hữu Ph (Sinh năm 198x. Địa chỉ xóm RB, xã ST, huyện YT, tỉnh Nghệ An) số tiền 350.000 đồng (Ba trăm, năm mươi nghìn đồng).

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) áo khoác bò màu xanh; 01 (Một) đôi dép cao su màu đen trắng; 01 (Một) áo khoác màu đen; 01 (Một) quần vải màu đen; 01 (Một) đôi dép cao su màu đen.

- Trả lại cho ông Lê Công M (Sinh năm 198x. Địa chỉ xóm Y, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Nghệ An): 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 52X1-6814, số khung RLHHC09086X11631, số máy HC09E611646.

Đặc điểm, tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Phan Văn H, Lê Công Đ – mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các bị cáo Phan Văn H, Lê Công Đ được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Bị hại, người giám hộ của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ