- Tranh chấp gì? án hình sự — "N Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Long Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 08 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Sỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Nam;
2. Ông Lê Văn Trường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 đối với:
1. Bị cáo: Bùi Long Nh; sinh ngày 25 tháng 02 năm 1999 tại Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn 7, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mường; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Bùi Thị L; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 29/11/2022 đến ngày 02/12/2022 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại:
- Anh Nguyễn Đức L; sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn 4, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Anh Nguyễn Văn T; sinh năm 1998; nơi cư trú: Số nhà 27, đường Trường Chinh, phường T, Quận 12, Thành phố H. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi kết thúc cuộc nhậu vào khoảng 23 giờ ngày 14/7/2022, anh Nguyễn Đức L rủ Bùi Long Nh về ngủ tại nhà của anh L ở Thôn 4, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Khi đi ngủ anh L để ví tiền và một điện thoại di động Iphoen X ở đầu giường. Đến sáng ngày 15/07/2022 anh L thức dậy không thấy điện thoại của mình và không thấy Nh ở đó, kiểm tra ví tiền anh L phát hiện bị mất 4.000.000 đồng, liên lạc với Nh không được nên anh L đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Đến ngày 29/11/2022 Nh ra đầu thú tại Công an xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng và khai nhận như sau:
- Khi về đến nhà anh L vào đêm ngày 14/7/2022 thì Nh ngồi chơi gaem còn anh L đi ngủ trước. Đến khoảng 24 giờ cùng ngày Nh thấy anh L đã ngủ say và ở đầu giường có 01 chiếc ví và 01 điện thoại di động Iphoen X nên nảy sinh ý định trộm cắp. Nh lấy chiếc điện thoại di động Iphoen X bỏ vào túi và mở ví lấy đi số tiền 4.000.000 đồng của anh L rồi đi về nhà mình.
- Sau khi về đến nhà, Nh mở điện thoại trộm cắp được của anh L và truy cập vào tài khoản Messenger tên “Nguyễn Đức L” đang được đăng nhập sẵn trên điện thoại, Nh nhắn tin cho bạn của anh L là anh Nguyễn Văn T hỏi mượn số tiền 2.300.000 đồng. Do anh T nhầm tưởng người nhắn tin là anh L nên anh T đồng ý cho mượn tiền. Sau đó Nh nhắn tin đề nghị anh T chuyển vào tài khoản số 108872267385 mở tại Ngân hàng Công thương Việt Nam của bạn Nh là Bùi Văn Quân, sinh năm 2007, địa chỉ tại xã Văn Sơn, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Đến khoảng 03 giờ ngày 15/7/2022, khi biết anh T thông báo đã chuyển tiền vào tài khoản của Quân thì Nh mang theo tài sản trộm cắp được đón xe về tỉnh Hòa Bình gặp Quân và nhận số tiền 2.300.000 đồng do anh T chuyển vào tài khoản của Quân, sau đó Nh tiếp tục bán điện thoại Iphoen X trộm cắp của anh L để lấy tiền tiêu xài. Khi biết bị Cơ quan Công an truy tìm và được gia đình động viên, đến ngày 29/11/2022 Nh đến cơ quan Công an đầu thú.
- Tiến hành xác minh đối với chủ tài khoản 108872267385 tên Bùi Văn Quân, sinh năm 2007, địa chỉ tại xã Văn Sơn, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình cho biết qua rà soát trên địa bàn xã Văn Sơn, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình không có người tên Bùi Văn Quân có lai lịch như trên nên Công an huyện Di L không có cơ sở xem xét trách nhiệm.
- Tại bản kết luận định giá tài sản số: 532/KL-HĐĐG ngày 17/08/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Di Linh kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen đã qua sử dụng có trị giá 7.740.000 đồng.
- Quá trình điều tra Nh đã trả cho anh Tài 2.300.000 đồng nên anh T có đơn bãi nại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nh. Về phía anh L yêu cầu Nh bồi thường với số tiền 16.000.000 đồng.
- Tại Bản cáo trạng số: 47/CTr-VKS ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố Bùi Long Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
- . Quá trình thẩm vấn tại phiên tòa anh Nguyễn Đức L yêu cầu bị cáo bồi thường 11.740.000 đồng và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về phía bị cáo Bùi Long Nh thành khẩn khai nhận hành các vi phạm tội như đã nêu ở trên, thừa nhận bản thân đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như cáo trạng của Viện kiểm sát và đồng ý bồi thường 11.740.000 đồng cho anh L. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi anh L và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đồng thời đề nghị xử lý như sau:
+ Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điều 38; Điều 50; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt theo quy định của pháp luật.
+ Áp dụng Điều 585 của Bộ luật dân sự, ghi nhận thỏa thuận của bị cáo và bị hại về việc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh L 11.740.000 đồng.
+ Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 587.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan Điều tra Công an huyện Di Linh, của Kiểm sát viên và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng bảo đảm cho bị cáo, bị hại thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định của pháp luật, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đều hợp pháp.
Bị hại anh Nguyễn Văn T có đơn xin vắng mặt. Xét anh T đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra và việc anh T vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Cần căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt anh T là có căn cứ pháp luật.
Lời khai của bị cáo, bị hại tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Qua đó có cơ sở xác định: Vào đêm ngày 14/7/2022 và rạng sáng ngày 15/7/2022, tại Thôn 4, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Bùi Long Nh đã lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Đức L 4.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X trị giá 7.740.000 đồng. Đồng thời, bị cáo Bùi Long Nh còn đưa ra thông tin gian dối làm anh Nguyễn Văn T nhầm tưởng nên đã chuyển cho bị cáo số tiền 2.300.000 đồng. Các hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Long Nh đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Các tội bị cáo phạm phải đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, trong quá trình tố tụng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với cả hai tội. Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường toàn bộ 2.300.000 đồng cho anh Nguyễn Văn T nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xét bị cáo vì lòng tham đã lợi dụng lòng tin của bạn bè cùng lúc thực hiện hai hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù để răn đe, giáo dục bị cáo và phục vụ công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên nêu trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại bị cáo đã trộm cắp của anh L không thu giữ được. Nay bị cáo và anh L thỏa thuận bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh L với số tiền 11.740.000 đồng. Xét thỏa thuận bồi thường giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận. Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho anh T toàn bộ số tiền 2.300.000 đồng và anh T không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cần buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 11.740.000 đồng x 5% = 587.000 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Long Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Long Nh 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng Điều 38; Điều 50; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Long Nh 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Bùi Long Nh phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án, được trừ vào thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 29/11/2022 đến ngày 02/12/2022.
2. Áp dụng Điều 585 của Bộ luật dân sự: Ghi nhận thỏa thuận của bị cáo và bị hại về việc bị cáo Bùi Long Nh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Đức L số tiền 11.740.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Long Nh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 587.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Di Linh; - CQ Điều tra Công an huyện Di Linh; - CQ Thi hành án hình sự Công an huyện Di Linh; - Nhà tạm giữ Công an huyện Di Linh; - Chi cục THADS huyện Di Linh; - Sở Tư pháp Lâm Đồng; - Bị cáo; - Bị hại; người liên quan; - Lưu án văn, hồ sơ. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Sỹ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |