- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của BLTTHS; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải nộp 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HS-PT Ngày: 14-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Anh Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Hà Nam
Ông Nguyễn Đức Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử trực tuyến phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 39/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HS-ST ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1976; nơi sinh: Xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Xóm 7, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 4/12; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1948 và con bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1948 (đã chết); gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Nguyễn Thị M, sinh năm 1973; có 01 con, sinh năm 1997;
Tiền án: Ngày 29/7/2008, Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xử phạt 04 năm 04 tháng tù về các tội “Cướp giật tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 30/01/2011 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng, án phí dân sự 761.500 đồng và truy thu sung quỹ Nhà nước 1.700.000đồng;
Ngày 18/6/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xử sơ thẩm, phạt 09 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 25/8/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phúc thẩm tuyên phạt 08 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 07/11/2021 chấp hành xong hình phạt;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 13/7/1999, bị Tòa án nhân dân thị xã Cam Đường, tỉnh Lào Cai xử phạt 05 năm tù về các tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”;
Bị tạm giữ từ ngày 31/12/2022 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hải Hậu; có mặt.
- Bị hại: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn Sào Nam, xã Trực Hùng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có tiền tiêu, Nguyễn Tuấn A nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 14 giờ ngày 24/9/2022, Nguyễn Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng, biển kiểm soát (BKS) 60X2-4236 từ nhà ở xuống xã Hải Phú. Khi đi đến khu vực xóm Nguyễn Rinh, xã Hải Phú, bị cáo nhìn thấy trong ngõ nhà bà Nguyễn Thị Hoa dựng 01 xe Vision BKS 18B2-46606, xe của chị Vũ Thị T, không có người trông coi. Bị cáo dừng xe ngoài cổng, đi bộ đến nơi dựng xe Vision BKS 18B2-46606, tay trái nhấc yên xe lên, tay phải luồn vào trong cốp xe lấy được 01 ví giả da màu nâu, bên trong có số tiền 14.900.000đ, 1 chỉ vàng miếng loại 01 chỉ và 1 chỉ vàng nhẫn tròn loại 01 chỉ (đều là vàng 9999), 01 dây chuyền bạc loại 4 chỉ; 02 thẻ căn cước công dân; 02 thẻ Ngân hàng và 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Vũ Thị T. Bị cáo lên Hà Nội, bán cho cửa hàng vàng bạc khu vực Hoàn Kiếm 02 chỉ vàng 9999 lấy số tiền 11.000.000đ. Toàn bộ số tiền 14.900.000đ có trong ví và số tiền bán 02 chỉ vàng bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết. Tài sản còn lại gồm: 01 dây chuyền bạc; ví giả da màu nâu, 02 thẻ Ngân hàng, 02 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế bị cáo để nguyên trong ví, ném vào thùng rác khu vực gần hồ Hoàn Kiếm. Ngày 31/12/2022, bị cáo đến Công an huyện Hải Hậu đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐG ngày 13/4/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hải Hậu kết luận: 01 ví giả da màu nâu trị giá 20.000đ; 01 dây chuyền bạc 04 chỉ trị giá 280.000đ; 02 chỉ vàng 9999 trị giá 10.080.000đ. Tổng giá trị các tài sản định giá là 10.380.000đ.
Quá trình điều tra, Nguyễn Tuấn A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho chị Vũ Thị T. Chị T yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 20.280.000đ.
Với nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2023/HS-ST ngày 27-4-2023 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã quyết định: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 40 (bốn mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31-12-2022. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.
Ngày 09/5/2023, bị cáo Nguyễn Tuấn A làm đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nhưng bị cáo có nguyện vọng xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bố già yếu, con còn nhỏ không có người chăm sóc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định kết luận về vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm; đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn A và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Giữ nguyên nội dung kháng cáo và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về phần thủ tục: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tuấn A làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Khoảng 14 giờ ngày 24/9/2022, tại ngõ nhà bà Nguyễn Thị Hoa ở xóm Nguyễn Rinh, xã Hải Phú. Nguyễn Tuấn A đã lợi dụng lúc không có người trông coi tài sản, lén lút dùng tay trái nâng yên xe, tay phải luồn vào trong cốp xe Vision biển kiểm soát 18B2-466.06 của chị Vũ Thị T lấy 01 ví giả da trong đó có số tiền 14.900.000đ; 02 chỉ vàng 9999 trị giá 10.800.000đ; 01 dây chuyền bạc 04 chỉ trị giá 280.000đ; ví giả da trị giá 20.000đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo Nguyễn Tuấn A đã chiếm đoạt của chị Vũ Thị T là 25.280.000đ. Ngày 31/12/2022, bị cáo đến Công an huyện Hải Hậu đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Nguyễn Tuấn A đã tái phạm, chưa được xóa án tích. Như vậy, hành vi của Nguyễn Tuấn A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo có nguyện vọng xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bố của bị cáo già yếu, con còn nhỏ không có người chăm sóc. HĐXX xác định đây không phải là căn cứ để giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, bị cáo không có tình tiết mới để làm căn cứ xem xét giảm nhẹ; HĐXX quyết định không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo không được chấp nhận, nên người kháng cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn A và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 40 (bốn mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31-12-2022.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của BLTTHS; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải nộp 200.000 đồng.
4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nam Định; - CA-VKSND-TAND huyện Hải Hậu; - Trại tạm giam - Công an tỉnh Nam Định; - Chi cục THADS huyện Hải Hậu; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Anh Tuấn |