vanban.org

Bản án 51/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 03/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC: Tho - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HS-PT
Ngày: 03 – 08 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒ A Á N NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phú c thẩm gồm có:

Thẩm phá n – Chủ tọa phiên tò a: Ông Trần Minh Tấn

Cá c Thẩm phá n:

Bà Châu Minh Nguyệt

Ông Bùi Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phái - Thư ký Tòa án nhân dân tinh Ba ̣̉

c Liêu.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân tinh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà

̉

Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vu ̣ án hinh sự phúc thẩm thu ̣ lý số: 60/2023/TLPT-HS ngày 26 tháng

̀ 6 năm 2023 đối vớ i bi ̣ cáo Lê Minh T do có kháng cáo của bị cáo Lê Minh T đối vớ i Bản án hinh sự sơ thẩm số: 07/2023/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân

̀ dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cá o có kháng cáo: Lê Minh T, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1997, tại tỉnh Bạc Liêu;

Nơi cư trú: ấp 16B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn L và bà Phạm Thị u; có vợ và 02 con; tiền sự: không; tiền án: 01 lần, ngày 28 tháng 6 năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21 tháng 12 năm 2022; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26 tháng 02 năm 2023 cho đến nay. (Có mặt)

Ngoài ra vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn B; bị hại ông Trần Văn N và anh Trần Hữu N không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 25 tháng 02 năm 2023, bị cáo T và bị cáo B rủ nhau tìm tài sản để trộm, nên khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày bị cáo B tự ý lấy xe mô tô hiệu Sirius 94D1-57322 của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Hoa chở bị cáo T từ nhà đến địa phận huyện H.

Khi chạy xe đến nhà của ông Trần Văn N thuộc ấp N, xã N, huyện H thấy nhà không khóa cửa hông, bị cáo T chạy qua khỏi nhà một đoạn thì quay xe lại và dừng xe cách nhà của ông N khoảng 3-4 căn nhà, lúc này bị cáo B ở ngoài canh đường, còn bị cáo T đi vào nhà của ông N.

Khi vào nhà bị cáo T nhìn thấy trên đầu nằm của ông N 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen và trên đầu nằm của anh Nhiệm 01 điện thoại di động hiệu LG v50s ThinQ màu đen nên lấy cất vào túi quần. Bị cáo tiếp tục lại chỗ đầu nằm của ông N lấy chìa khóa xe rồi mở cốp xe mô tô hiệu SH more phát hiện một cái bóp, khi mở bóp lấy được số tiền 16.126.000đ cất vào túi quần sau. Bị cáo đi ra ngoài đến cửa hông nhìn thấy một giỏ xách bên trong có một con gà trống nên bị cáo lấy giỏ xách và gà đi ra ngoài xe đưa cho bị cáo B.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 04/BB-HĐĐGTS ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H như sau: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, loại cảm ứng, đã qua sử dụng có giá 833.300đ; 01 điện thoại di động hiệu LG v50s ThinQ màu đen, loại cảm ứng, đã qua sử dụng có giá 1.933.300đ; 01 con gà trống màu vàng cam đen còn sống, trọng lượng 3,2kg có giá 320.000đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2023/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh T và bị cáo Nguyễn Văn B, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Minh T, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26 tháng 02 năm 2023.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B, 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được đối trừ thời giam tạm giữ từ ngày 26 tháng 02 năm 2023 đến ngày 07 tháng 3 năm 2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên xử về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22 tháng 5 năm 2023 bị cáo Lê Minh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm vụ án như sau: tại bản án sơ thẩm tuy có nhận định về tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo T theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng khi quyết định thì không áp dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bổ sung. Mặc dù có bổ sung nhưng mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo T là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận: khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 25 tháng 02 năm 2023, bị cáo cùng với bị cáo B thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của ông N và anh Nhiệm, với tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 19.212.600đ nên cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự như: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự về việc bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuy cấp sơ thẩm không áp dụng trong phần quyết định nhưng vẫn có nhận định khi quyết định hình phạt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ bổ sung. Với mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo đã phù hợp với các căn cứ quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật Hình sự, do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Minh T, mà Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện H như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh T.

1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

2. Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị tạm giữ là ngày 26 tháng 02 năm 2023.

4. Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc bị cáo Lê Minh T phải chịu nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.

5. Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ