vanban.org

Bản án 51/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Thế L.

Về con chung: Cháu Nguyễn Thế Trung, sinh ngày 24/7/2003 đã đủ 18 tuổi nên không giải quyết. Chị Vũ Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Thế H, sinh ngày 31/05/2008. Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu. Các đương sự được quyền đi lại thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị L ly hôn Nguyễn Thế L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Thế L.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 51/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 8 năm 2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Sơn; Ông Đào Đức Phú

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2023/HNGĐ - ST ngày 17 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1976 ( có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Thế L, sinh năm 1971(xin vắng mặt)

Đều HKTT: Khu 4, phường T. thành phố B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai tại Toà án và đơn đề nghị, nguyên đơn là chị Vũ Thị L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thế L kết hôn với nhau ngày 19 tháng 4 năm 2002 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống cùng nhau tại Khu 4, phường Thị Cầu. thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Luyện chơi bời lô đề, cờ bạc, vay mượn của nhiều người, mọi người đến đòi nợ chị làm ảnh hưởng đến cuộc sống của mẹ con chị. Ngoài ra anh còn liên tục mắng chửi mẹ con chị vô cớ. Vì vậy vợ chồng chị đã sống ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay về đoàn tụ với nhau được. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thế L.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Thế L có 02 con chung. Cháu thứ nhất tên là Nguyễn Thế Trung, sinh ngày 24/7/2003; cháu thứ 2 tên là Nguyễn Thế H, sinh ngày 31/05/2008. Ly hôn chị xin được chăm sóc nuôi dưỡng cháu Hiếu, còn cháu Trung đã trên 18 tuổi đủ tuổi trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu giải quyết.

Tại đơn đề nghị anh Nguyễn Thế L trình bày: Anh thừa nhận nguyên nhân chị Lan làm đơn xin ly hôn anh như chị Lan trình bày trong đơn là đúng. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Lan xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh đống ý để chị Lan nuôi con.

- Về tài sản: Anh để lại toàn bộ cho vợ, con sở hữu.

- Về công nợ: Anh có trách nhiệm trả những khoản nợ riêng của anh. Anh xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết và phiên tòa xét xử.

Tại bản bản tự khai cháu Nguyễn Thế H trình bày: Cháu là con của bố Nguyễn Thế L và mẹ là Vũ Thị L. Trong cuộc sống hàng ngày cháu thấy bố mẹ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi nhau nhiều. Bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị L, chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Thế L.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thế H, sinh ngày 31/05/2008 cho chị Lan chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu Nguyễn Thế Trung đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Vấn đề cấp dưỡng: Chị Lan không yêu cầu nên không xem xét

Tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét

Về án phí: Chị Lan phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Vũ Thị L, căn cứ vào Khoản 1, Điều 28, Khoản 1, Điều 35 ; Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hôn nhân gia đình và Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về sự tham gia tố tụng của các đương sự tại phiên tòa:. Anh Nguyễn Thế L đã trình bày quan điểm tại đơn đề nghị và có văn bản xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa xét xử. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về nội dung:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Thế L kết hôn vào ngày 19 tháng 4 năm 2002. Trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Như vậy, chị Lan và anh Luyện đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống đến năm 2008 anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Luyện chơi lô đề, cờ bạc, vay mượn của nhiều người, mọi người đến đòi nợ làm anh hưởng đến cuộc sống của mẹ con chị Lan. vợ chồng chị đã sống ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay. Chị Lan và anh Luyện đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và không còn tình cảm, chị Lan làm đơn xin ly hôn anh Luyện cũng đồng ý. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần xử cho chị Lan được ly hôn anh Luyện.

2.2 Về con chung: Anh chị có 02 con chung. Cháu thứ nhất tên là Nguyễn Thế Trung, sinh ngày 24/7/2003; cháu thứ 2 tên là Nguyễn Thế H, sinh ngày 31/05/2008. Hiện nay cháu Trung đã trên 18 tuổi đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét. Còn cháu Hiếu có nguyện vọng được ở với mẹ, anh Luyện đồng ý để chị Lan chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hiếu. Do vậy, giao cháu Hiếu cho chị Lan nuôi dưỡng là phù hợp.

1.3 Về tài sản chung và công nợ chung: Anh chị không yêu cầu nên không xem xét

1.4 Về án phí: Chị Lan tự nguyện chịu án phí

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 28,35,39, 147, 228, 235, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2006 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Thế L.

2. Về con chung: Cháu Nguyễn Thế Trung, sinh ngày 24/7/2003 đã đủ 18 tuổi nên không giải quyết. Chị Vũ Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Thế H, sinh ngày 31/05/2008. Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu.

Các đương sự được quyền đi lại thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị L tự nguyện chịu 300.000đồng (Xác nhận chị Lan đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2022/0000062 ngày 17/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh). Chị Lan đã nộp đủ.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc kể từ ngày niêm yết kết quả bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ