- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L - C"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Diệu L và anh Trương Đỗ Thành C
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31/5/2023 V/v: “Ly hôn giữa chị L và anh C” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Phạm Hồng Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Ông Lê
Duy Khôi – Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm C khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 01/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Diệu L, sinh năm 1998; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định
Bị đơn: Anh Trương Đỗ Thành C, sinh năm 1998; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/12/2022 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Diệu L trình bày: Chị kết hôn với anh Trương Đỗ Thành C trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 03 tháng 12 năm 2020 tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về C việc, các mối quan hệ xã hội và mâu thuẫn giữa hai bên gia đình. Từ năm 2021 đến nay chị và anh C ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Đỗ Thành C.
Về con chung: Vợ chồng chị có 1 con chung là Trương Phạm T sinh ngày 16/11/2020 hiện nay đang ở cùng với chị. Khi ly hôn, chị L muốn tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Anh Trương Đỗ Thành C được Tòa án triệu tập đến trụ sở Tòa án làm việc nhưng anh không đến, cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án
Về đường lối giải quyết:
Căn cứ điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Diệu L. Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Diệu L và anh Trương Đỗ Thành C.
2. Về nuôi con chung: Chị Phạm Diệu L tiếp tục trực tiếp nuôi con Trương Phạm T sinh ngày 16/11/2020, chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí DSST: chị L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật./
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Trương Đỗ Thành C vẫn thường trú tại địa phương nhưng thường xuyên vắng mặt tại nhà, không rõ thời điểm trở về, vì vậy không thể thực hiện việc tống đạt hoặc thông báo trực tiếp. Tòa án nhân dân huyện N đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 177 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Phạm Diệu L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trương Đỗ Thành C vắng mặt; căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân: Chị Phạm Diệu L và anh Trương Đỗ Thành C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 03 tháng 12 năm 2020 tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định; Vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị L và anh C chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng ý kiến về quan điểm, lối sống tính cách. Từ năm 2021 đến nay chị L và anh C ly thân. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh C không còn; chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.
Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Diệu L và anh Trương Đỗ Thành C đã mâu thuẫn trầm trọng, từ khi ly thân đến nay hai bên cũng không tìm được biện pháp hàn gắn đoàn tụ nên nếu tiếp tục kéo dài thì mục đích của hôn nhân không đạt được; Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Diệu L đối với anh Trương Đỗ Thành C.
Về nuôi con chưa thành niên khi ly hôn: Chị Phạm Diệu L và anh Trương Đỗ Thành C có 01 con chung là Trương Phạm T sinh ngày 16/11/2020 hiện đang ở cùng chị L. Xét thấy điều kiện hoàn cảnh lời trình bày của đương sự và kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương thì thấy mong muốn của chị L về nuôi con chung khi ly hôn là phù hợp, vì vậy nên giao cháu Trương Phạm T sinh ngày 16/11/2020 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Diệu L về việc không yêu cầu anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Trương Đỗ Thành C có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản: Chị Phạm Diệu L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu sau này các đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí: Chị Phạm Diệu L phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Diệu L, anh Trương Đỗ Thành C được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1.Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Diệu L và anh Trương Đỗ Thành C
2. Về nuôi con chung chưa thành niên : Giao con chung Trương Phạm T, sinh ngày 16/11/2020 cho chị Phạm Diệu L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L về việc không yêu cầu anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Trương Đỗ Thành C có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
3.Về án phí: Chị Phạm Diệu L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên lai thu số 00004848 ngày 04 tháng 01 năm 2023
4.Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Diệu L, anh Trương Đỗ Thành C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh: 01 bản - VKSND, tỉnh, huyện: 02 bản - Chi cục THA huyện N: 01 bản - UBND xã Đ: 01 bản - Các đương sự - Lưu hồ sơ, Lưu VP | T/M: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Thọ |