vanban.org

Bản án 51/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cư vào Khoản 01 Điều 28, Điểm a Khoản 01 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật…

[1]. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa A Trần Quốc A và chị Nguyễn Thị T. [2]. Về con chung: Giao 03 con chung tên Trần A T, sinh ngày 02/01/2009; Trần Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 01/6/2012; Trần Gia K, sinh ngày 24/10/2018 cho A Trần Quốc A trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Căn cư vào Khoản 01 Điều 28, Điểm a Khoản 01 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:51/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09-6-2023.
v/v ly hôn, trA chấp về
nuôi con.

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/Ông Nguyễn Văn Tới.

2/Ông Nguyễn Thành Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh– Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hiệp – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023 về “ly hôn, trA chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/5/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: A Trần Quốc A, sinh năm 1986 (có mặt).

2. Bi đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện ngày 05/12/2022, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn A Trần Quốc A trình bày: A và chị Nguyễn Thị T cưới nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Uy ban nhân dân xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện, không bị ai ép buôc và đươc gia đình hai bên đông ý. Vơ chông sống với nhau khoảng 15 năm thì xảy ra mâu thuân. Nguyên nhân mâu thuân do không hơp quan điểm sống, vơ chông thương xuyên cãi nhau. Chị T không chăm lo gia đình, con cái, mọi trang trải trong gia đình môt mình A A lo liệu. Tuy nhiên theo A A, môt phần nguyên nhân mâu thuân cũng do A A làm tài xế, thương xuyên đi làm xa, vắng nhà nên tình cảm vơ chông ngày càng rạn nưt, không thể hàn gắn. Vơ chông sống cùng mẹ chông, mối quan hệ mẹ chông con dâu đôi lúc cũng có lơi qua tiếng lại, A A cũng cố gắng sắp xếp giữa đôi bên. A cũng nhiều lần khuyên ngăn vơ thay đổi, quan tâm đến gia đình hơn, chị T hưa hẹn nhưng vân chưng nào tật nấy, không hề thay đổi, ngày càng hơi hơt hơn trong cuôc sống vơ chông. Từ tháng 8/2022, chị T tự ý bỏ nhà đi đến nay, từ đó vơ chông không liên lạc với nhau nữa. Nay A xác định tình cảm vơ chông không còn nữa và nguyện vọng của A là yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

- Về con chung: Vơ chông có 03 con chung tên Trần A T, sinh ngày 02/01/2009; Trần Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 01/6/2012; Trần Gia K, sinh ngày 24/10/2018.

Hiện nay các con đang sống cùng A A. Khi ly hôn, A yêu cầu đươc quyền trực tiếp nuôi các con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nơ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, do chị Nguyễn Thị T vắng mặt nên yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án cùng chính quyền địa phương đã nhiều lần đến nhà chị Nguyễn Thị T để tống đạt các văn bản tố tụng, chị Nguyễn Thị T cố tình lẩn tránh, vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng như ghi lơi khai, lập Biên bản về kiểm tra việc giao nôp, tiếp cận, công khai chưng cư và Biên bản hòa giải nên Tòa xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị T theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cưu các tài liệu, chưng cư có trong hô sơ vụ án đã đươc thẩm tra tại phiên tòa. Hôi đông xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật trA chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bị đơn chị Nguyễn Thị T. Bị đơn có địa chỉ thương trú ở xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Căn cư vào Khoản 01 Điều 28, Điểm a Khoản 01 Điều 35 và Điều 39 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật trA chấp trong vụ án này là “Ly hôn, trA chấp về nuôi con”, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuôc Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

. Về tố tụng: Xét bị đơn chị Nguyễn Thị T đã đươc Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật, nhưng vân vắng mặt 02 lần tại phiên tòa không có lý do nên căn cư vào Điều 227 và Điều 228 Bô luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị T.

. Về nội dung:

+ Về hôn nhân: Hôn nhân của A Trần Quốc A và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn tại Uy ban nhân dân xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc theo giấy chưng nhận đăng ký kết hôn số 25, quyển số 01/2009, ngày 10/3/2009 của Uy ban nhân dân xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, đây là hôn nhân hơp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của A A, Hôi đông xét xử thấy rằng: Trong vụ án này A A khai ra nguyên nhân mâu thuân vơ chông là do không hơp quan điểm sống, vơ chông thương xuyên cãi nhau. Chị T không chăm lo gia đình, con cái, mọi trang trải trong gia đình môt mình A A lo liệu. Tuy nhiên theo A A, môt phần nguyên nhân mâu thuân cũng do A A làm tài xế, thương xuyên đi làm xa, vắng nhà nên tình cảm vơ chông ngày càng rạn nưt, không thể hàn gắn. Vơ chông sống cùng mẹ chông, mối quan hệ mẹ chông con dâu đôi lúc cũng có lơi qua tiếng lại, A A cũng cố gắng sắp xếp giữa đôi bên. A cũng nhiều lần khuyên ngăn vơ thay đổi, quan tâm đến gia đình hơn, chị T hưa hẹn nhưng vân chưng nào tật nấy, không hề thay đổi, ngày càng hơi hơt hơn trong cuôc sống vơ chông. Từ tháng 8/2022, chị T tự ý bỏ nhà đi đến nay, từ đó vơ chông không liên lạc với nhau nữa. Xét mâu thuân của A A và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, thể hiện qua việc khi Tòa án thông báo về yêu cầu ly hôn của A A thì chị T không có ý kiến hay đông tác gì để hàn gắn mà bỏ mặc; khi Tòa án tổ chưc hòa giải đoàn tụ thì chị T vắng mặt không tham dự. Việc chị T không có ý kiến khi A A xin ly hôn, không tham dự phiên hòa giải, phiên tòa vừa vi phạm nghĩa vụ bị đơn vừa đánh mất cơ hôi hòa giải đoàn tụ tại Tòa án. Chưng tỏ, chị T không có thiện chí hòa giải tình cảm để hàn gắn quan hệ vơ chông với A A, mâu thuân vơ chông của A, chị không đươc cải thiện, đơi sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đươc. Căn cư vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của A A.

+ Về con chung: Vơ chông có 03 con chung tên Trần A T, sinh ngày 02/01/2009; Trần Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 01/6/2012; Trần Gia K, sinh ngày 24/10/2018.

Hiện nay các con đang sống cùng A A. Khi ly hôn, A A yêu cầu đươc quyền trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung. A A không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con vì A đủ điều kiện để nuôi con.

Xét yêu cầu giải quyết về con chung của A A, Hôi đông xét xử thấy rằng: Đối với cháu Trần A T, sinh ngày 02/01/2009 và cháu Trần Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 01/6/2012 đã trên 7 tuổi khi hỏi nguyện vọng của cháu T và cháu Q thì các cháu có yêu cầu đươc ở với ba là A A, cháu K còn nhỏ chưa đủ tuổi để hỏi nguyện vọng, hiện nay A A đang trực tiếp nuôi dưỡng 03 con và trong thơi gian qua A A nuôi dưỡng con tốt. Căn cư vào Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Việc A A yêu cầu đươc quyền tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung tên Trần A T, sinh ngày 02/01/2009; Trần Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 01/6/2012; Trần Gia K, sinh ngày 24/10/2018 là hoàn toàn phù hơp với quy định của pháp luật, nên Hôi đông xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: A A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên Tòa, Hôi đông xét xử đã giải thích việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lơi của con, nhưng A A tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng vì A đủ khả năng, điều kiện nuôi con. Vì vậy, Hôi đông xét xử không xem xét, giải quyết.

+ Về tài sản: Không yêu cầu nên Hôi đông xét xử không xem xét giải quyết.

+ Về nơ chung: Không yêu cầu nên Hôi đông xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: A Trần Quốc A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uy ban Thương vụ Quốc hôi.

Chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cư vào Khoản 01 Điều 28, Điểm a Khoản 01 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uy ban Thương vụ Quốc hôi quy định về mưc thu, miễn, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa A Trần Quốc A và chị Nguyễn Thị T.

[2]. Về con chung: Giao 03 con chung tên Trần A T, sinh ngày 02/01/2009; Trần Nguyễn Khánh Q, sinh ngày 01/6/2012; Trần Gia K, sinh ngày 24/10/2018 cho A Trần Quốc A trực tiếp nuôi dưỡng.

Về mưc cấp dưỡng và phương thưc cấp dưỡng: Không yêu cầu nên Hôi đông xét xử không xem xét, giải quyết.

Chị Nguyễn Thị T đươc quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai đươc cản trở. Vì lơi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi ngươi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

[3]. Về tài sản và nơ: Không yêu cầu nên Hôi đông xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: A Trần Quốc A phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. A A đã nôp đủ 300.000đ theo Biên lai thu tạm ưng án phí, lệ phí tòa án số 0014326 ngày 04 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, nên không phải nôp nữa.

Chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thơi hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/6/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thơi hạn kháng cáo tính từ ngày nhận đươc bản án hoặc đươc tống đạt hơp lệ.

Cỡ chữ