- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lam A và anh Nguyễn Chí Ng"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị Lam A và anh Nguyễn Chí Ng là vợ chồng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2023/HNGĐ-ST Ngày: 03/4/2023 (V/v Tranh chấp xin ly hôn) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI - TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng
Các hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Nguyễn Ming Hoàng
2/. Ông Nguyễn Văn Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoa Đăng, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 147/2023/TLST-HN ngày 15 tháng 3 năm 2023 về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lam A, sinh năm 2005
Địa chỉ: ấp 4, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.
2/. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí Ng, sinh năm 2004
Địa chỉ: ấp 4, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị Lam A và anh Ng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 13/3/2023, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lam A và bị đơn anh Nguyễn Chí Ng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Lam A và anh Ng cưới nhau vào tháng 08 năm 2022, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Đến nay anh chị chung sống vẫn chưa có con chung và chưa đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Nguyên nhân ly hôn theo chị Lam A và anh Ng xác định: Lúc đầu khi cưới nhau về thì vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Nhưng sau đó khoảng 03 tháng thì vợ chồng anh chị xảy ra nhiều quan điểm trái ngược nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp với nhau, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng càng lúc càng trầm trọng, không thể hàn gắn lại được. Vợ chồng đã ly thân đến nay được 01 tháng nay. Nay nhận thấy cuộc sống chung giữa vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Lam A yêu cầu xin được ly hôn với anh Ng. Anh Ng cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Lam A.
Về con chung: Chị Lam A và anh Ng xác định vợ chồng anh chị chưa có con chung. Khi ly hôn anh chị không yêu cầu xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: chị Lam A và anh Ng xác định vợ chồng anh chị tự thỏa thuận, khi ly hôn anh chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ: chị Lam A và anh Ng xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung, khi ly hôn anh chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự là đúng là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: chị Lam A và anh Ng chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lam A và anh Ng.
Về con chung: chị Lam A và anh Ng không có con chung, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Do chị Lam A và anh Ng không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình thì chị Lam A phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lam A có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Ng. Anh Ng có địa chỉ cư trú tại huyện Đông Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.
Chị Lam A và anh Ng có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Lam A và anh Ng.
Về nội dung vụ án: chị Lam A và anh Ng chung sống với nhau vào tháng 08 năm 2022, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, nhưng đến nay anh chị vẫn chưa đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã ly thân cách đây khoảng hơn 01 tháng. Quá trình tố tụng thì cả hai anh chị đều có mong muốn được ly hôn với nhau.
Hội đồng xét xử xét thấy: Việc chị Lam A và anh Ng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đi đăng ký kết hôn là đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng…”
Do đó theo quy định của pháp luật thì hôn nhân giữa chị Lam A và anh Ng không có giá trị pháp lý, không được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay chị Lam A xin ly hôn với anh Ng thì Hội đồng xét xử không tuyên giải quyết cho chị Lam A và anh Ng ly hôn với nhau, mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lam A và anh Ng là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: chị Lam A và anh Ng không có con chung, anh chị không đặt ra yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Lam A và anh Ng không đặt ra yêu cầu, nên nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Lam A phải chịu theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị Lam A và anh Nguyễn Chí Ng là vợ chồng.
2/. Về nuôi con chung: không đặt ra xem xét giải quyết.
3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.
4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị Lam A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000008 ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Nguyễn Thị Lam A và anh Nguyễn Chí Ng biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BL - VKSND huyện ĐH - THA huyện ĐH - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | đã ký Lưu Hải Đăng |