vanban.org

Bản án 51/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Trúc M với bị đơn anh Huỳnh Tấn T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trương Thị Trúc M với anh Huỳnh Tấn T Về nuôi con chung: giao cháu Huỳnh Tấn P, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2013 và Huỳnh Tấn L, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2021 cho chị Trương Thị Trúc M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị M không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Trúc Mai - Huỳnh Tấn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Trúc M với bị đơn anh Huỳnh Tấn T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18-9-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Tuyết Nhung;

Ông Phạm Tấn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 114/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 và Quyết định định hoãn phiên tòa số 91/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Trúc M, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Tấn T, sinh năm 1993; nơi cư trú: khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 4 năm 2023 và Biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 5 năm 2023 nguyên đơn chị Trương Thị Trúc M trình bày:

Về hôn nhân: Chị M và anh T là vợ chồng có đăng ký kết hôn lần thứ nhất ở Ủy ban nhân dân xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương vào khoảng năm 2012. Tuy nhiên, sau đó đã ly hôn và có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Năm 2020, anh T năn nỉ muốn hàn gắn tình cảm hứa hẹn sửa đổi cùng nhau nuôi dạy con nên chị M đồng ý quay lại với anh T. Chị M kết hôn lần thứ hai vào ngày 08 tháng 3 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn lần thứ hai chị M và anh T sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không lo làm ăn không quan tâm lo lắng cho gia đình. Chị M có khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Sau khi khuyên nhủ không được, vợ chồng không có tiếng nói chung nên chị M về nhà mẹ đẻ sinh sống từ cuối năm 2021 đến nay. Hiện nay, chị M không cảm với ông T không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn để trả tự do cho nhau.

- Về con chung: chị M và anh T có 02 con chung tên Huỳnh Tấn P, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2013 và Huỳnh Tấn L, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2021. Hiện nay, con chung đang ở với chị M. Chị M yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Huỳnh Tấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên to a nhưng anh T đều vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng va về việc giải quyết vụ án:

- Quá trình giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Trương Thị Trúc M khởi kiện anh Huỳnh Tấn T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Anh T có nơi cư trú tại khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Nguyên đơn chị M vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh T.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Về hôn nhân: hôn nhân của chị M và anh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 12, ngày 08 tháng 3 năm 2021; chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên cãi vã, không có tiếng nói chung. Chị M và anh T đã ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay. Xét thấy, chị M và anh T là vợ chồng nhưng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không sống chung với nhau là không thực hiện đúng nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân của chị M và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, quyết định cho chị M và anh T ly hôn.

Về con chung: chị M và anh T có có 02 con chung tên Huỳnh Tấn P, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2013 và Huỳnh Tấn L, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2021 hiện đang sống chung với chị M. Xét thấy, cháu P có nguyện vọng sống chung với chị M; cháu L hiện nay chưa được 03 tuổi cần sự chăm sóc của mẹ. Vì vậy yêu cầu của chị M về nuôi con chung là phù hợp theo quy định khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu P và cháu L cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao dục.

Về cấp dưỡng: Chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình

Về chia tài sản chung, nợ chung: chị M không tranh chấp về chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét ý kiến pha t biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa vê việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: nguyên đơn chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Trúc M với bị đơn anh Huỳnh Tấn T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trương Thị Trúc M với anh Huỳnh Tấn T

- Về nuôi con chung: giao cháu Huỳnh Tấn P, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2013 và Huỳnh Tấn L, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2021 cho chị Trương Thị Trúc M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị M không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị M có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.

Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về chia tài sản chung, nợ chung: chị Trương Thị Trúc M không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: chị Trương Thị Trúc M phải chịu 300.000 ba trăm nghìn đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0009543 ngày 15 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

3. Về nghĩa vụ thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ