vanban.org

Bản án 51/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Yến N. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trịnh Thị Yến N và anh Lý Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 51/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14-4-2023
“V/v Ly hôn giữa chị N và anh T”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu Trang và bà Trần Thị Mộng Lành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy- Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Yến N, sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Lý Văn T, sinh năm 1981

Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án, Chị Trịnh Thị Yến N trình bày nhƣ sau:

Chị Trịnh Thị Yến N (gọi tắt chị N) và anh Lý Văn T (gọi tắt anh T) chung sống với nhau vào năm 2005 được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán nhưng cho đến nay vẫn chưa thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất hòa, thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm sống, anh T có tính ghen tuông làm cho hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng cố gắng hàn gắn hạnh phúc nhưng không thành, nên tình cảm vợ chồng không còn, chị N xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N sống ly thân với anh T khoảng 09 năm, nay chị N xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị N xác định vợ chồng có hai con chung tên Lý Văn Đ, sinh ngày 07/10/2006 và Lý Thị Mỹ Q, sinh ngày 09/10/2012. Hiện tại các con chung đang sống với anh T, khi ly hôn chị N đồng ý giao hai con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị N không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung của vợ chồng, chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung của vợ chồng và người khác nợ vợ chồng không có.

Tại phiên tòa hôm nay chị N tiếp tục xin ly hôn với anh T và giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trong quá trình làm việc tại Tòa án.

Trong quá trình làm việc tại Tòa án, bị đơn anh Lý Văn T có ý kiến trình bày nhƣ sau:

Anh T thống nhất với ý kiến của chị N về thời gian vợ chồng chung sống vào năm 2005 và xác định từ khi chung sống đến nay vợ chồng chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra trong thời gian dài không thể hàn gắn được nên anh T thống nhất ly hôn với chị N.

Về con chung, anh T thống nhất với lời trình bày của chị N về con chung của vợ chồng. Hiện nay các con chung sống với anh T, anh T xin được tiếp tục nuôi hai con chung, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, anh T cho rằng vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng.

Ý kiến trình bày của con chung: Cháu Lý Văn Đ, sinh ngày 07/10/2006 và Lý Thị Kim Q, sinh ngày 09/10/2012 có nguyện vọng được sống với cha sau khi mẹ ly hôn.

Qua yêu cầu khởi kiện và ý kiến của các đƣơng sự đã thống nhất và không thống nhất với nhau các vấn đề sau:

Chị N và anh T thống nhất chung sống với nhau vào năm 2005 đến nay chưa thực hiện đăng ký kết hôn nay cùng thống nhất ly hôn. Về con chung anh chị xác định có hai người con chung tên Lý Văn Đ, sinh ngày 07/10/2006 và Lý Thị Mỹ Q, sinh ngày 09/10/2012, sau khi ly hôn anh T trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung theo nguyện vọng của con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh T không có yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng các đương sự xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả thu thập chứng cứ: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; giấy khai sinh của các con chung của vợ chồng, bản sao căn cước công dân, bản tự khai.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn anh Lý Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình không công nhận vợ chồng giữa chị N và anh T. Về con chung giao các con chung cho anh T nuôi dưỡng sau khi vợ chồng ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh T không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng các đương sự xác định không có, không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Quan hệ pháp luật: Chị Nxin ly hôn với anh T và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Tại phiên tòa bị đơn anh Lý Văn T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Tòa án chị N và anh T đều xác định anh chị chung sống với nhau vào năm 2005 cho đến nay chưa thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, trong “Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân” ngày 16/02/2023 Ủy ban nhân dân xã H huyện A xác nhận từ năm 2005 đến năm 2019 chị N sống chung với T như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, hiện chưa kết hôn với ai. Do chị N và anh T không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh chị không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Căn cứ vào Điều 9, Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, qua thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh T.

Về con chung: Chị N và anh T có hai người con chung cháu Lý Văn Đ, sinh ngày 07/10/2006 và Lý Thị Mỹ Q, sinh ngày 09/10/2012 các con chung đều có nguyện vọng được sống với anh T. Từ khi anh chị ly thân đến nay con chung sống với anh T có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường, hiện tại anh T có nhà ở địa phương và có thu nhập ổn định để nuôi dưỡng con chung, trong quá trình giải quyết vụ án anh chị thỏa thuận giao các con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Lý Văn Đ, sinh ngày 07/10/2006 và Lý Thị Mỹ Q, sinh ngày 09/10/2012 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Các đương sự xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị N là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 9, Điều 14, Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Yến N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trịnh Thị Yến N và anh Lý Văn T.

2. Về con chung:

Giao cháu Lý Văn Đ, sinh ngày 07/10/2006 và Lý Thị Mỹ Q, sinh ngày 09/10/2012 cho cha là anh Lý Văn T nuôi dưỡng sau khi chị Trịnh Thị Yến N và anh Lý Văn T không tiếp tục chung sống theo nguyện vọng của các con chung và sự thỏa thuận của các đương sự.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lý Văn T không có yêu cầu nên không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Các đương sự xác định không có, không có yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Trịnh Thị Yến N có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003992 ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Trịnh Thị Yến N đã nộp đủ án phí.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 14/4/2023, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ